CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – NGUYỄN MINH HUẤN

Nguyễn Minh Huấn sinh năm 1936, trong một gia đình nghèo. Tuổi thơ của ông gắn liền với những ngày đói khát, với tiếng súng, tiếng bom và những cuộc càn quét liên miên của kẻ thù. Lớn lên giữa thời nước mất, nhà tan, trong lòng cậu bé năm nào sớm nhen lên ngọn lửa yêu nước và khát vọng được góp sức cho cách mạng.
Ngay khi vừa đến tuổi, ông đã đăng kí tham gia nghĩa vụ quân sự với mong muốn góp một phần sức lực của mình, cống hiến cho nước nhà, cho dân tộc. Khi tham gia nghĩa vụ, được rèn luyện, học tập trong môi trường quân đội, lòng yêu nước của chàng thanh niên 18 tuổi ấy lại càng lớn hơn bao giờ hết. Đến cả khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, ông vẫn luôn ấp ủ trong mình mong muốn được giúp sức cho đất nước, cho cách mạng. Ông trở về làng vào một buổi chiều cuối năm, khi gió bấc hun hút thổi qua những thửa ruộng nứt nẻ. Chiếc ba lô bạc màu theo năm tháng nằm gọn trên vai, bên trong không có gì nhiều ngoài bộ quân phục đã sờn vai và một trái tim vẫn còn nguyên vẹn nhiệt huyết của tuổi hai mươi.
Những năm ấy, đất nước còn chia cắt, quê hương Hà Bắc nghèo khó, bom đạn chiến tranh vừa lùi xa nhưng dấu tích vẫn in hằn trên từng mái nhà, từng con mương cạn nước. Trở về sau những ngày tháng quân ngũ, ông không chọn nghỉ ngơi. Nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông xung phong vào lực lượng công nhân xây đắp thủy lợi Hà Bắc – một mặt trận mới, không tiếng súng nhưng đầy gian nan, thử thách.
Ngày ấy, công trường không có máy móc hiện đại. Cuốc, xẻng, quang gánh là bạn đồng hành của những chàng trai vừa rời quân ngũ. Dưới cái nắng bỏng rát của mùa hè hay cái rét cắt da của mùa đông miền trung du, họ miệt mài đào kênh, đắp đập, be bờ. Đôi bàn tay chai sạn, lưng áo đẫm mồ hôi, nhưng ánh mắt ai cũng ánh lên niềm tin: dẫn được nước về ruộng đồng là giữ được sự sống cho quê hương.
Có những đêm, cả tổ công nhân ngủ ngay bên bờ đập, lấy bầu trời làm mái nhà, lấy tiếng côn trùng làm khúc ru. Ông kể, những lúc mệt mỏi nhất, ông lại nhớ tới lời thề trong quân ngũ: “Ở đâu Tổ quốc cần, ở đó thanh niên có mặt.” Chính lời thề ấy đã giúp ông và đồng đội vượt qua đói rét, bệnh tật và cả những trận lũ bất ngờ đổ về, cuốn trôi công sức nhiều ngày lao động.
Rồi từng con kênh được nối dài, từng cánh đồng khô hạn bắt đầu xanh màu lúa mới. Nước về, niềm vui theo đó lan khắp làng quê Hà Bắc. Người dân gọi những công nhân thủy lợi là “những người lính không quân hàm”, bởi họ tiếp tục cống hiến trong thầm lặng, mang lại bình yên và no ấm.
Nhiều năm đã trôi qua, mái tóc ông nay đã bạc. Cuộc sống cũng được cải thiện nhiều, nhìn những con kênh nhỏ ngày xưa nay đã được "tân trang", trở thành những bờ kênh to đẹp, vững chắc, ông vui và tự hào lắm. Nhưng mỗi khi đi ngang qua vị trí con kênh xưa ấy, ông vẫn dừng lại thật lâu, lặng lẽ nhìn dòng nước chảy. Trong ánh mắt ấy là cả một thời hoa lửa đã qua – thời của tuổi trẻ sẵn sàng dâng hiến, của những con người bình dị đã góp phần dựng xây quê hương từ những điều giản đơn nhất.
Thời hoa lửa hôm qua ấy, không chỉ là ký ức, mà còn là ngọn lửa soi đường cho hôm nay và mai sau. Chiến tranh qua đi, đất nước thống nhất. Người công nhân năm xưa trở về với cuộc sống đời thường, lặng lẽ như chính con người ông. Ông không tự nhận mình là anh hùng, chỉ nói giản dị: “Tôi làm những việc cần làm của một người dân trong thời đất nước cần.” Những tấm huân, huy chương được ông trân trọng đóng khung, treo ngay ngắn trên tường như để hồi tưởng lại một thời hoa lửa, một thời nhiệt huyết của tuổi trẻ và lòng yêu nước vẫn luôn cháy mãi trong trái tim ông.
Câu chuyện về người công nhân nhà máy thủy điện sinh năm 1936 ấy không chỉ là ký ức của một đời người, mà còn là minh chứng sinh động cho tinh thần yêu nước, cho sự hy sinh thầm lặng của biết bao con người bình dị. Từ những con người như ông, dòng điện của lòng yêu nước đã thắp sáng cả một thời đại và tiếp tục soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau.



