Mẹ Việt Nam Anh hùng

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - NGUYỄN THỊ THINH

Bắc Ninh05/06/2026Lê Minh Thuỳ (Mầm non Nham Biền số 1)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - NGUYỄN THỊ THINH

Khi Đoàn phường phát động cuộc thi viết với chủ đề “Câu chuyện thời hoa lửa”, lòng tôi bỗng lặng đi. Giữa bao câu chuyện về chiến tranh và hòa bình, tôi không cần tìm đâu xa. Bởi ngay trong gia đình mình, có một câu chuyện đã âm thầm chảy qua bao năm tháng – câu chuyện về bà tôi, Nguyễn Thị Thinh (1928–2011), và hai người bác đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.

Tôi sinh ra khi đất nước đã yên bình. Tuổi thơ tôi gắn với hình ảnh bà nội tóc bạc, dáng người nhỏ bé, lưng hơi còng nhưng đôi mắt vẫn sáng. Tôi từng thắc mắc vì sao mỗi năm đến tháng Bảy, bà lại ngồi rất lâu trước bàn thờ, lặng lẽ lau từng chiếc bát hương, thay từng bình hoa tươi rồi khẽ quay mặt đi lau nước mắt.

Lớn lên, tôi mới hiểu.

Bà tôi sinh năm 1928. Cả cuộc đời bà gắn với ruộng đồng và những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Ông nội tôi – ông Lê Văn Đang – khi ấy là xã trưởng hợp tác xã. Ông bà vừa lo việc chung của làng, vừa tần tảo nuôi đàn con đông đúc giữa thời buổi thiếu thốn.

Người con trai cả của bà – bác Lê Văn Đông – nhập ngũ khi mới tròn 19 tuổi. Ngày bác đi, bà chỉ kịp ôm con thật chặt. Không có lấy một tấm ảnh để làm kỷ niệm. Không ai nghĩ đó có thể là lần cuối cùng.

Ngày 27/07/1973, gia đình nhận tin bác Đông hy sinh. Bác ra đi khi chưa có vợ, chưa có con, chưa kịp sống hết tuổi thanh xuân. Đứng trước mất mát ấy, bác thứ hai – bác Lê Đình Thuỷ – dù đã có lời hẹn ước với người con gái mình thương, vẫn nén nỗi đau riêng, xin bà được tiếp bước anh theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

Ảnh : Bằng tổ quốc ghi công của bác Đông

Những tưởng chờ đợi đến ngày hoà bình bình để được đón bác trong vòng tay của người mẹ, nhưng ngày 14/07/1974, gia đình lại nhận thêm giấy báo tử. Hai người con trai ngã xuống chỉ cách nhau đúng một năm. Nỗi đau dồn dập khiến cho trái tim người làm cha, làm mẹ như bị bóp nghẹt. Thế rồi ông nội tôi suy sụp, lâm bệnh nặng rồi qua đời năm 1976.

Ảnh: Bằng tổ quốc ghi công của bác Thuỷ và huân chương chiến công kháng chiến

Từ đó, bà tôi một mình gánh vác tất cả. Sáu người con còn lại, ruộng đồng, gia đình – tất cả đè lên đôi vai người phụ nữ nhỏ bé ấy. Ban ngày bà ra đồng, ban đêm bà vá áo, lo từng bữa cơm cho các con. Không một lời than trách. Những năm tháng ấy cứ thế trôi đi, hai bác tôi vẫn nằm lại nơi chiến trường xa. Bà chỉ biết thắp nhang và gọi tên chồng, tên con trong nước mắt.

Năm 1994, gia đình tôi nhận được tin từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc về phần mộ của bác Thuỷ. Chính bố tôi – khi ấy còn rất trẻ – đã thay mặt gia đình vào chiến trường xưa tìm lại hài cốt của bác. Mẹ kể, bố đi trong lòng vừa hồi hộp vừa đau đáu, như đang tìm lại một phần máu thịt của mình.

Ngày đưa bác về quê hương, bà tôi đứng lặng trước linh cữu. Bà run run chạm tay và khẽ nói:“Con ơi, mẹ đón con về rồi.”

Từ đó, gia đình tôi thờ cúng bác Thuỷ, bàn thờ được lập trang trọng. Mỗi dịp giỗ, cả nhà quây quần bên nhau, nhắc lại những câu chuyện về hai bác – những chàng trai tuổi mười chín, đôi mươi đã gửi lại thanh xuân cho đất nước.

Còn bác Đông – người con trai cả – vẫn không tìm được phần mộ. Không ảnh thờ, không kỷ vật. Chỉ là ký ức về một chàng trai 19 tuổi ra đi trong buổi sớm mùa hè. Mỗi dịp tháng Bảy, bà lại lặng người trước bàn thờ, nước mắt rơi. Bà tin bác đã hòa vào đất trời, vào đất mẹ quê hương.

Bà tôi mất năm 2011. Nhưng câu chuyện về bà và hai bác chưa bao giờ khép lại.

Giờ đây, khi tôi được khoác lên mình tấm áo xanh thanh niên tình nguyện, được cống hiến tuổi trẻ cho Đoàn, tôi cảm thấy trong tim mình có thêm một nguồn động lực đặc biệt. Mỗi hoạt động tôi tham gia, mỗi việc nhỏ tôi làm, tôi đều nghĩ đến tuổi trẻ của hai bác – tuổi trẻ đã cháy hết mình trong “thời hoa lửa”.

Danh hiệu: Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Tôi hiểu rằng mình may mắn được sống trong hòa bình. Và chính vì thế, tôi càng trân trọng hơn những hy sinh của thế hệ đi trước.

Viết những dòng này, tôi không chỉ kể lại câu chuyện của gia đình mình. Tôi viết để tri ân bà – người phụ nữ đã một đời lặng thầm chịu đựng và hy sinh. Tôi viết để tưởng nhớ hai người bác – những chàng trai đã dâng trọn tuổi xuân cho Tổ quốc.

Với tôi, “Câu chuyện thời hoa lửa” không chỉ là ký ức của một thời bom đạn. Đó là ngọn lửa truyền đời – từ bà tôi, đến bố tôi, và giờ đây là tôi – để mỗi thế hệ trẻ biết sống xứng đáng hơn với hai chữ hòa bình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn