Câu chuyện thời Hoa Lửa: NGUYỄN THỊ THỨ
Câu chuyện thời Hoa Lửa: NGUYỄN THỊ THỨ
Câu chuyện thời Hoa Lửa:
NGUYỄN THỊ THỨ
Có một bức ảnh đen trắng đã lấy đi nước mắt của triệu triệu người con đất Việt. Bức ảnh chụp một người mẹ già tóc bạc trắng, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn thời gian, ngồi lặng lẽ bên mâm cơm. Trên mâm cơm ấy không có cao lương mỹ vị, chỉ có chín cái bát và chín đôi đũa được xếp ngăn nắp. Mẹ ngồi đó, chờ những đứa con của mình về ăn cơm — những đứa con đã ra đi từ thuở mười chín, đôi mươi và mãi mãi nằm lại nơi chiến trường xa xôi.Người mẹ vĩ đại trong bức ảnh ấy chính là Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ. Sinh năm 1904 tại vùng quê giàu truyền thống cách mạng xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, cuộc đời 106 tuổi của Mẹ là một thiên sử thi oai hùng. Đó là câu chuyện được viết bằng nước mắt, sự hy sinh thầm lặng nhưng rực cháy lý tưởng sống, tình quân dân gắn kết và lòng dũng cảm phi thường.
Trong “thời hoa lửa”, khái niệm đồng đội của Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã vượt qua ranh giới của máu mủ ruột rà. Đối với Mẹ, tất cả những người lính giải phóng, những chiến sĩ du kích nằm vùng đều là con. Mẹ coi họ như những đứa em, đứa con đồng chí của con trai mình đang chiến đấu ở một chiến trường nào đó.Ngay trong vườn nhà Mẹ, có đến năm chiếc hầm bí mật được đào sâu dưới lòng đất. Suốt những năm tháng chiến tranh ác liệt, ngôi nhà và khu vườn của Mẹ trở thành nơi chở che vững chắc cho hàng trăm cán bộ, chiến sĩ du kích. Tình quân dân ấy được thử thách qua từng bữa cơm sẻ nửa, từng ngụm nước tiếp tế giữa đêm khuya. Mẹ cùng con gái đầu bám trụ xóm làng, vừa nuôi giấu chiến sĩ, vừa làm tai mắt cho cách mạng. Mỗi khi quân giặc đi càn quét, Mẹ lại giả vờ ra vườn quét lá, phơi ngô để đánh lạc hướng, làm rào chắn an toàn cho những người lính dưới hầm sâu. Tình yêu thương bao la của Mẹ chính là điểm tựa tinh thần, là “sợi dây đồng đội” vô hình nhưng bền chặt, gắn kết hậu phương với tiền tuyến thành một khối thép kiên cường.
Lý tưởng sống của Mẹ Nguyễn Thị Thứ không nằm ở những trang sách vở hay những khẩu hiệu to lớn. Lý tưởng ấy được nuôi dưỡng từ lòng yêu xóm làng, yêu từng bờ tre gốc lúa, và sâu sắc hơn cả là nỗi căm thù giặc tàn phá quê hương. Giữa những năm tháng “thời hoa lửa” gông cùm thực dân và đế quốc, Mẹ nhận ra một chân lý mộc mạc: Nếu ai cũng giữ con mình ở lại xóm làng, thì ai sẽ là người đi giải phóng giang sơn?Với lý tưởng kiên trung ấy, Mẹ đã dằn lòng đưa ra những quyết định dũng cảm đến thắt lòng. Lần lượt, người chồng, chín người con trai, một người con rể và hai người cháu ngoại của Mẹ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc lên đường ra trận. Cứ mỗi lần một người con lớn khôn, Mẹ lại nghẹn ngào gói nắm cơm, sửa lại nếp áo, tiễn con đi chiến đấu. Lý tưởng của Mẹ là sự dâng hiến không đòi hỏi đền đáp. Ở hậu phương, Mẹ bám trụ xóm làng, tay cày tay cuốc để làm ra hạt lúa, củ khoai gửi ra tiền tuyến nuôi quân. Niềm tin son sắt vào một ngày đất nước hoàn toàn độc lập chính là ngọn đuốc sáng nhất sưởi ấm trái tim Mẹ qua những đêm dài thức trắng trông ngóng tin con.
Mẹ Nguyễn Thị Thứ đã thanh thản về với đất mẹ vào năm 2010. Cuộc đời Mẹ đã khép lại, nhưng hình bóng của Mẹ đã hóa thân thành Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng vĩ đại tại núi Cấm, tỉnh Quảng Nam — lấy chính nguyên mẫu gương mặt đầy bao dung và kiên cường của Mẹ.”Thời hoa lửa” đã lùi xa, đất nước hôm nay đã trọn vẹn niềm vui độc lập. Câu chuyện về lý tưởng sống kiên trung, tình đồng đội bao la và lòng dũng cảm quên mình của Mẹ Nguyễn Thị Thứ vẫn mãi là ngọn đuốc sáng rực. Mẹ chính là biểu tượng cao đẹp nhất của người phụ nữ Việt Nam, một tượng đài lòng dân bất tử, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về trách nhiệm sống, cống hiện và gìn giữ nền hòa bình được đổi bằng xương máu của các thế hệ cha anh.



