Cựu chiến binh

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – NGUYỄN VĂN THỊNH (1)

Bắc Ninh06/06/2026Ong Diệu Linh (Liên đội trường Tiểu học Nham Biền số 1)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – NGUYỄN VĂN THỊNH  (1)

“Có một thời hoa lửa đã qua đi
Nhưng Tổ quốc còn ghi lòng người lính.
Những bước chân từng vượt qua bom đạn,
Vẫn âm thầm giữ ấm cả quê hương”

Có những trang sử vàng không chỉ nằm trong sách vở, mà còn sống trong ký ức của những con người đã từng đi qua chiến tranh. Mỗi nếp nhăn trên khuôn mặt, mỗi câu chuyện được kể đều là những mảnh ghép của một thời hào hùng không thể nào quên. Với tôi, nhân chứng lịch sử ấy không phải là một nhân vật xa xôi, mà chính là ông ngoại – người đã từng sống, chiến đấu và bước qua những năm tháng khốc liệt của đất nước.

Khi ông ba mươi tuổi- độ tuổi cùng gia đình làm ăn kinh tế, xây dựng hạnh phúc thì ông tôi tham gia kháng chiến.. Khi ấy, ở quê nhà ông đã lập gia đình và sinh được 5 người con nhỏ. Thế nhưng khi Tổ quốc gọi tên, ông vẫn quyết định gác lại mái ấm gia đình, tạm biệt vợ con để lên đường theo tiếng gọi của đất nước. Ông kể rằng ngày rời nhà, các con còn quá nhỏ, có đứa còn chưa hiểu vì sao cha lại đi xa. Nhưng trong lòng ông khi ấy chỉ có một suy nghĩ giản dị: Nếu đất nước còn chiến tranh thì người đàn ông phải đứng lên bảo vệ quê hương, gác lại những ước mơ bình dị của tuổi thanh xuân để khoác lên mình màu áo lính. Những ngày hành quân “ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, những trận đánh khi máy bay Mỹ bất ngờ ập đến ném bom hay trận đánh tại chiến trường Tây Nguyên thật gian khổ biết bao. Nhưng ông của tôi cùng đồng đội luôn mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy tình yêu quê hương và niềm tin vào chiến thắng. Mỗi lần kể về những trận đánh lịch sử, giọng ông thường chậm lại, ánh mắt xa xăm như đang nhìn về một bầu trời của quá khứ. Sau những trận chiến, có người đã trở về quê hương, tiếp tục cuộc sống bình dị. Nhưng cũng có người đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường, để tuổi xuân của mình hòa vào đất mẹ. Tôi hiểu rằng trong ký ức của ông, chiến tranh không chỉ là tiếng súng và chiến thắng, mà còn là tình đồng đội, là những mất mát không thể gọi thành tên.

Trong một trận chiến ác liệt năm ấy, ông ngoại tôi đã bị thương. Ông kể rằng, tháng 4 năm 1968 ông được điều động vào Kon Tum để bổ sung cho đơn vị chiến đấu C8, tiểu đoàn K5, trung đoàn E24 Bộ tư lệnh B3 Tây Nguyên. Đầu tháng 5 năm 1969 toàn đơn vị xuất kích, đánh giao thông đường 14, huyện Đắc Tô đi Kon Tum. Đến ngày 18 tháng 5 năm 1969 khẩu đội pháo DKZ của ông bắn bốt của địch phản pháo lại thì ông bị vết thương vào cánh tay trái, vết thương thứ 2 vào bả vai trái. Ông được đưa vào điều trị tại bệnh xá 80 của tỉnh đội Kon Tum. Đến tháng 5 năm 1970, địch đổ bộ quân bằng máy bay trực thăng để giải toả vòng vây của ta. Địch cho máy bay phản lực đánh bom chặn để ngăn cản sức tiến công của quân ta và không may ông bị thương một vết thương vào đùi phải. Sức ép khủng khiếp của bom đạn hất ông ngã xuống, mảnh bom găm vào cơ thể. Trong khoảnh khắc đau đớn ấy, ông vẫn cố gắng gượng dậy, tiếp tục cùng đồng đội giữ vững trận địa cho đến khi trận chiến kết thúc. Sau này, ông được tiếp nhận là chiến sĩ của C3, tiểu đoàn K23, ban tham mưu Bộ tư lệnh B3 Tây Nguyên. Đến tháng 5 năm 1873 ông được ra Bắc, trở về quê hương. Đúng vậy, vết thương trên cơ thể của những trận đánh khiến ông mang thương tật suốt đời và ông đã được Nhà nước công nhận là Thương binh hạng Tư. Mỗi khi nhắc đến vết thương ấy, ông ngoại tôi chưa từng than thở. Ông chỉ lặng lẽ mỉm cười và nói rằng: “ Đó là dấu ấn của một thời tuổi trẻ đã sống hết mình vì Tổ quốc”. Những câu chuyện ông kể cứ lặng lẽ đọng lại trong tâm trí tôi, như những trang ký ức không bao giờ phai nhạt. Với tôi, vết thương trên cơ thể ông không chỉ là nỗi đau của chiến tranh, mà còn là minh chứng cho lòng dũng cảm và sự hy sinh thầm lặng của những người lính đã góp phần đem lại hòa bình cho đất nước hôm nay.

Sau những năm tháng chiến đấu và cống hiến, những đóng góp của ông ngoại tôi đã được Nhà nước ghi nhận. Ông vinh dự được trao tặng những tấm huân chương cao quý: Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhì ( 1975), Huân chương Kháng chiến hạng Ba(1988),… Mỗi tấm huân chương lấp lánh ấy không chỉ là phần thưởng cho những hy sinh thầm lặng của ông mà còn là niềm tự hào của con cháu sau này. Để khi nhìn lại chặng đường trưởng thành của mình, tôi luôn hãnh diện vì có một người ông – người lính năm xưa đã lặng lẽ dành cả tuổi trẻ cho Tổ quốc.

Đến bây giờ, khi đã là một Cựu chiến binh 90 tuổi, được sống thanh thản bên bà ngoại và con cháu trong thời bình nhưng dấu ấn về một thời hoa lửa vẫn còn in đậm trong tâm trí ông. Mỗi câu chuyện ông kể không chỉ là ký ức của một thời chiến tranh, mà còn là những bài học quý giá nhắc nhở thế hệ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, ghi nhớ công lao của những người đi trước và sống có trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước. Nhìn ông ngoại hôm nay với mái tóc bạc và ánh mắt hiền từ, trong lòng tôi dâng lên niềm biết ơn sâu sắc. Tình cảm ấy không chỉ là những lời nói giản dị, mà còn hóa thành những vần thơ nhỏ bé của người cháu dành cho ông:





“ Ông đi qua một thời bom lửa,
Mang tuổi xuân gửi lại chiến trường.
Một vết sẹo còn in năm tháng,
Đổi hòa bình cho những con đường.
Cháu lớn lên dưới bầu trời yên ả,
Tiếng bước chân vang mãi trong tim.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn