CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ: ÔNG LÊ VĂN NGHIỆP
Ông Lê Văn Nghiệp, sinh năm 1965, ở ấp Long Hưng 2, xã Hòa Minh, Nhập ngũ ngày 24/8/1984

Trong ký ức của ông Lê Văn Nghiệp, những năm tháng tuổi trẻ không gắn với ruộng đồng hay mái nhà yên bình, mà là tiếng súng, khói lửa và những bước hành quân xuyên rừng núi. Ông sinh năm 1965, lớn lên trong hoàn cảnh gia đình khó khăn, kinh tế thiếu trước hụt sau. Thế nhưng khi Tổ quốc gọi tên, chàng trai 19 tuổi vẫn sẵn sàng lên đường, dù lúc đó vợ đang mang bầu bốn tháng.
Những ngày đầu quân ngũ – Hành trình rời quê
Ngày 24/8/1984, ông chính thức nhập ngũ, được đưa về trường Đồng Tâm (Tiền Giang) huấn luyện 3 tháng rưỡi. Những bài tập hành quân, đánh gần, đánh xa, chiến thuật, võ thuật… diễn ra liên tục, rèn cho ông sức bền và ý chí thép.
Cuộc sống lúc đó gian khó, bữa cơm thiếu chất, quần áo vá chằng vá đụp, nhưng ông và đồng đội luôn động viên nhau: “Ra chiến trường còn khổ hơn, ráng mà vượt qua.”
Học xong, ông cùng đơn vị được điều ra làm nhiệm vụ quốc tế ở đơn vị C14 – D42 – đoàn 7704 – Tỉnh Bắc Tam Boog, chiến đấu suốt 3 năm 4 tháng đầy hiểm nguy.
Xa vợ con – Nỗi lòng người lính trẻ
Ngày khoác ba lô lên đường, vợ ông bụng mới bốn tháng. Ông kể lại:
“Đi mà lòng rối bời. Nhưng trai thời đó ai cũng vậy. Tổ quốc cần thì phải đi.”
Đời sống thời điểm ấy thiếu thốn trăm bề, vợ ở nhà một mình, con còn chưa kịp thấy mặt cha đã phải chịu cảnh cách xa. Đó là nỗi đau thầm lặng của bao chiến sĩ thời bấy giờ.
Giữa ranh giới sống – chết
Trong chiến trường ác liệt, ông từng trải qua khoảnh khắc sinh tử. Một quả B40 nổ, mảnh văng trúng đầu, vai, cánh tay, để lại trong cơ thể ông 7 mảnh còn nằm lại đến ngày hôm nay. Mỗi khi trời trở lạnh, những chỗ ấy nhức buốt, sưng lên – di chứng chiến tranh chưa bao giờ thôi hành hạ.
Lúc bị thương, đồng đội phải điện xe bò đưa ông về trạm xá điều trị. Ông nói:
“Đồng đội hy sinh nhiều lắm. Nằm đó mà nghe từng tiếng báo tử, thấy lòng đau như cắt.”
Sau khi hồi phục, ông tiếp tục trở lại chiến trường, cùng đồng đội tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế.
Đánh quân Pôn Pốt – Những tháng ngày không quên
Suốt ba năm hơn làm nhiệm vụ, mỗi 6 tháng ông thay đổi giữa đơn vị tại cứ và đơn vị tại địa phương, trực tiếp đối đầu lực lượng Pôn Pốt. Điều kiện chiến đấu vô cùng khó khăn: Ăn uống thiếu thốn: chỉ ruốc cá, rau rừng, thỉnh thoảng mới được phát vài hộp thịt; Phải hái rau rừng luộc, bắt thú nhỏ để sống qua ngày; Bị sốt rét ác tính, phải đưa sang Xiêm Riệp điều trị 4 tháng.
Hằng ngày, mỗi chiến sĩ phải tự đào “cung sợ” – hố ẩn nấp một người một điểm, vừa để trú ẩn vừa làm nơi đánh giặc khi địch tấn công.
Ông kể: “Lúc đó sợ lắm chứ. Nhưng vì đồng đội, vì dân, đành liều mình thôi”
Hiểm nguy luôn rình rập
Trên chiến trường, trời nắng mới là lúc nguy hiểm nhất. Đi theo đường mòn, nhiều người đạp trúng mìn, dẫn đến cụt chân, mất mắt. Còn trời mưa thì hành quân bằng xuồng, an toàn hơn phần nào.
Đồng đội đi cùng ông ngày nhập ngũ có ba người, đến nay chỉ còn một người sống ở Thủ và ông, còn một người đã hy sinh.
Những mất mát ấy, ông chưa từng quên.
Ngày trở về – Một cuộc đời mới
Cuối năm 1988, ông được trở về. Huyện đội ưu tiên chuyển ngành, nhưng hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ, ông quyết định trở lại quê hương làm kinh tế.
Ông tham gia công tác Chi đoàn 2 nhiệm kỳ, góp sức cho phong trào thanh niên địa phương, rồi sau đó dành thời gian chăm lo gia đình, lao động sản xuất.
Giờ đây, khi nhắc lại chuyện cũ, ông chỉ cười hiền: “Miễn còn sống về được là mừng rồi. Đồng đội nhiều người nằm lại chiến trường hết…” Nhưng trong cơ thể ông vẫn còn 7 mảnh kim loại, trong tâm trí ông vẫn còn nguyên tiếng súng, tiếng pháo, tiếng đồng đội gọi nhau giữa đêm tối.
Câu chuyện của ông Lê Văn Nghiệp là một lát cắt chân thực của thế hệ đã hy sinh tuổi trẻ cho Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế. Những mất mát, đau thương và lòng dũng cảm của ông mãi là niềm tự hào của quê hương ấp Long Hưng 2.



