CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - NHỮNG NẤM MỒ KHÔNG TÊN TRÊN ĐƯỜNG 13
Những nấm mồ không tên trên Đường 13 “Ông cứ kể đi ạ…” Người cựu chiến binh trước mặt chúng tôi lặng im rất lâu. Rồi ông bắt đầu kể, chậm rãi, từng câu như được gỡ ra từ ký ức đã nằm yên hơn nửa thế kỷ.

Ông là Trần Quốc San, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1947, quê thôn Trần Xá, xã Lạc Long (cũ), nay thuộc xã Nam An Phụ, thành phố Hải Phòng. Năm 1967, khi vừa tròn hai mươi tuổi, ông nhập ngũ với suy nghĩ giản dị: đất nước còn chiến tranh thì mình phải đi.
Ông chiến đấu tại chiến trường B, trải qua những năm tháng ác liệt ở Tây Ninh, Bình Long, trực tiếp tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đánh vào Bến Cát, Tân Uyên (Tân Thiêu). Sau đó, ông tiếp tục góp mặt trong Chiến dịch Nguyễn Huệ, chiến đấu tại ngã tư Nước Đá Suông, Trúc Nam – Bắc, Lộ 7, rồi tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh Định Quán, chi khu Định Quán và thị xã Xuân Lộc – “cánh cửa thép” cuối cùng của chính quyền Sài Gòn.
Trong rất nhiều trận đánh đã đi qua, ký ức ám ảnh ông nhất là Chiến dịch Nguyễn Huệ trên Đường 13. Khi ta chuẩn bị tiến công, địch đã lợi dụng địa hình tháp nước và rãnh sâu ven đường, cho xe tăng ém sẵn. Hỏa lực bất ngờ trút xuống khi ta chưa kịp phát hiện. Trận đánh diễn ra dữ dội trong khói lửa mù mịt. Nhiều đồng đội của ông đã ngã xuống ngay trong ngày hôm ấy. Khi đó, ông San là y tá của đại đội. Ông vừa cứu chữa thương binh, vừa trực tiếp chôn cất liệt sĩ. Ông nói mình đã chôn rất nhiều người, không dưới năm mươi liệt sĩ, phần lớn là những ngôi mộ không tên giữa rừng sâu. Nhắc đến đồng đội, giọng ông nghẹn lại. Ông bảo, người lính hy sinh phải chịu năm nỗi khổ: khổ vì thân thể tan nát giữa bom đạn; khổ vì không có tấm vải che thân; khổ vì không có người thân bên cạnh lúc cuối đời; khổ vì không một nén hương tiễn biệt; và đau đớn nhất là những nấm mồ chôn không đủ sâu, để thú rừng đào bới, đất chưa kịp lấp đã bật lên nỗi đau của chiến tranh.
Chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mạng của đồng đội, mà còn để lại trên cơ thể ông hai vết thương, cùng những ký ức không bao giờ phai mờ.
Năm 1976, ông xuất ngũ trở về quê hương. Nhưng khi chiến tranh biên giới nổ ra, ông lại tái ngũ, trở về Trung đoàn 2, Sư đoàn 273. Sau đó, ông được cử đi học quân y, trở thành y sĩ, tiếp tục cứu người trong những năm tháng hậu chiến cho đến ngày nghỉ hưu. Rời quân đội, ông không rời trách nhiệm. Trở về địa phương, ông đảm nhiệm nhiều vai trò: Chi hội trưởng Cựu chiến binh, Trưởng ban Công tác Mặt trận thôn, Chi ủy viên, Bí thư Chi bộ, và hiện nay là Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam. Với ông, được sống sót trở về không phải để an nhàn, mà để sống thay phần đời của những người đã nằm lại.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ngày lên đường, đơn vị ông có hơn 150 người, đến nay chỉ còn khoảng 37 người. Phần lớn đồng đội đã hy sinh hoặc mang trong mình thương tật, bệnh tật do chiến tranh để lại. Những cống hiến ấy được ghi nhận bằng nhiều huân chương cao quý, nhưng với ông San, đó là máu xương của đồng đội hóa thành lịch sử, chứ không chỉ là vinh dự cá nhân.
Trong ký ức ông, những đồng đội đã ngã xuống vẫn còn nguyên vẹn. Họ nằm lại trên những con đường khói lửa để hôm nay đất nước được bình yên. Lắng nghe câu chuyện thời hoa lửa ấy, chúng ta hiểu rằng hòa bình không phải điều hiển nhiên, mà là món quà được đánh đổi bằng cả một thế hệ. Sống xứng đáng với sự hy sinh của cha anh chính là lời tri ân sâu sắc và bền lâu nhất.



