Câu chuyện thời hoa lửa-Phạm Thị Ba-ấp Bình Long, xã Lương Hòa Lạc, tỉnh Đồng Tháp
Họ và tên (Ông, bà, người thân trong gia đình): Phạm Thị Ba
Năm sinh: 1949
Địa chỉ: 299 tổ 9 ấp Bình Long, xã Thanh Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang (cũ), 299 tổ 9 ấp Bình Long, xã Lương Hòa Lạc, tỉnh Đồng Tháp (mới).
Chiến tranh thời hoa lửa không chỉ là những trang sử thấm đẫm tiếng khói, màu bom mà còn là dòng ký ức lặng lẽ chảy trong đời sống của những con người đã cùng nhau viết nên những trang sử ca ấy. Một trong số con người ấy, bà cố tôi là một người đã đi qua thời khói, tiếng chống đi, rồi ở lại thời bình cùng con, cùng cháu. Bà cố tôi, một người bà nay đã 77 tuổi, là nhân chứng cho bao biến động của lịch sử.
Bà sinh năm 1949 tại vùng đất Tiền Giang cũ (nay là Đồng Tháp), lớn lên trong những năm tháng đất nước chưa có một ngày yên bình trọn vẹn. Tuổi thơ của bà gắn với những ngày cắt lúa đến tận đêm, những bữa cơm đạm bạc, những hôm đói trước hôm thiếu. Những ngày lớn lên, vào ngày của năm 16 tuổi bà theo chồng, năm 17 tuổi bà mang thai và phải tiễn chồng ra trận.
Ông cố tôi độ tuổi lúc đó đã chừng 22, 23 tuổi. Ông cố tôi sinh ra và lớn lên tại đất Chợ Gạo, Tiền Giang. Cuộc đời ông gắn liền với những năm chiến tranh khốc liệt và là Bí thư của xã Thanh Bình. Còn cuộc đời của bà Ba (bà cố của tôi) là cả cuộc đời làm vợ, làm mẹ, tần tảo từ sớm khuya, cùng với nỗi cô đơn thiếu vắng bóng chồng đan xen cùng những nỗi nhớ, từng ngày mong chờ
“Chờ nhau cho kịp mùa chờ
Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông.”
Cho đến bây giờ khi cùng bên con cháu cuộc sống bớt đi phần khó khăn bà vẫn không quên nhớ về ông, nhớ cả chức vụ ông từng làm, nhớ cả ngày ông hy sinh. Tôi nhớ có hôm bà cô hỏi mẹ tôi, con lãnh lương cho ngoại chưa Hân (tiền lương vô liệt sĩ được cấp). Dạ rồi nè ngoại, con mua bộ nhang với hai bịch bột ngọt theo lời ngoại dặn nè mẹ tôi nói. Đó ông có bảy hứa với tao giờ ông làm được rồi đó. Ông có hứa gì vậy bà cố, tôi rặn hỏi mãi bà mới chịu kể. Chỉ hồi đó cưới nhau, ông hứa nuôi bà cố suốt đời, hồi đông nghèo ông vẫn nuôi tao được giờ ông hy sinh ông vẫn gửi tiền về cho cô nè. Câu chuyện làm cho tôi cảm động và suy nghĩ rất nhiều, như một minh chứng cho tình nghĩa vợ chồng son sắt giữa thời chiến tranh khốc liệt. Ông cố đã ngã xuống, nhưng lời hứa năm xưa vẫn còn, hoá thành những đồng lương gửi về mỗi tháng, thành nén nhang khói toả, thành niềm tin, niềm tự hào cho người ở lại. Và cho đến hiện tại, khi bà cố còn ở bên con cháu hằng ngày, đời lương của chồng mình hằng tháng, bà vẫn luôn nhắc cả gia đình rằng: “dỗ mải có trăm tuổi già cả gì cái lễ, Tết gì thì cũng ra nghĩa trang thắp cho ông cố bảy nén nhang,....”. Những lời dặn dò ấy là sợi dây lặng lẽ nối quá khứ với hiện tại, kéo tôi về quá khứ để lắng nhìn những con người đã kiên cường, anh dũng hy sinh và đưa tôi về thực tại để hôm nay, tôi thêm nhớ về, lòng chợt nghẹn lại, rưng rưng như vẫn còn thấy chiến tranh chưa hề xa!

