CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA: “PHI CÔNG NGUYỄN VĂN BẢY"
Câu chuyện khắc hoạ phi công anh hùng Nguyễn Văn Bảy – người đã lập chiến công bắn rơi nhiều máy bay Mỹ trong trận không chiến ác liệt năm 1966 và sống trọn đời giản dị như một người nông dân, để lại biểu tượng bất diệt về lòng dũng cảm và tình yêu quê hương.
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA:
“PHI CÔNG NGUYỄN VĂN BẢY”
Buổi bình minh tháng Tư năm 1966, sân bay Kép khoác lên mình một màu xám mờ đầy mùi khói máy bay và đất ẩm. Trên đường băng, những chiếc MiG-17 nằm im như những con chim thép đang ngủ say, chỉ đợi tiếng gọi của bầu trời để dang rộng đôi cánh. Lá cờ đỏ sao vàng phấp phới trong gió sớm, ánh lên sắc đỏ rực rỡ như ngọn lửa không bao giờ tắt của miền Bắc những năm chiến tranh.
Phi công Nguyễn Văn Bảy đứng lặng trước chiếc MiG mang số hiệu 204. Ông đưa bàn tay chai sần lên vuốt nhẹ lớp vỏ kim loại lạnh buốt chiếc máy bay này đã trở thành một phần cơ thể ông, một người đồng đội trung thành mà mỗi lần cất cánh đều đặt sinh mạng vào vòng xoáy tử thần. Dáng ông nhỏ bé, nước da sạm nắng của người nông dân miền Tây, nhưng ánh mắt thì sáng và sắc như lưỡi dao mới rèn.
Một đồng đội trẻ chạy lại, giọng còn phấn khích:
- Anh Bảy, nghe nói hôm nay địch vào đông lắm!
Bảy chỉ mỉm cười:
- Đông thì… mình bắn nhiều hơn chút thôi.
Cậu lính trẻ bật cười, nhưng trong nụ cười ấy có nét kính phục. Bởi người đối diện không chỉ là phi công đơn thuần, ông đã là huyền thoại sống của đơn vị.
Khoảng 9 giờ sáng, tiếng còi báo động vang lên kéo dài. Đất trời dường như rung theo.
- BÁO ĐỘNG! F-105 và F-4 xuất hiện! Chuẩn bị xuất kích!
Không khí xung quanh bỗng trở nên đặc quánh. Mọi người lao đi như gió. Bảy trèo lên buồng lái, cài dây đai, kéo chặt mặt nạ dưỡng khí.
Chiếc MiG-17 rú lên một tiếng dài, rồi lao khỏi đường băng như một mũi tên bạc. Không trung mở rộng ra, mênh mông và dữ dội. Bảy siết chặt cần lái, trong lòng chỉ có hai điều: quê hương và nhiệm vụ.
Khi lên đến độ cao chiến đấu, radar đã báo liên tiếp:
- F-105 đang lao vào! F-4 khóa đuôi!
Một giọng phi công khác hét lên:
- Chúng đông quá, anh Bảy!
Bảy phóng mắt qua tấm kính buồng lái, những chấm đen phía xa đang lớn dần. Ông thở mạnh:
- Đông thì càng phải bình tĩnh. Theo tôi.
Ông kéo gấp cần lái, chiếc MiG chúc mũi xuống một góc gần như thẳng đứng rồi lượn vòng sắc lẹm. Tiếng gió rít bên tai. Chiếc F-4 bị đánh lừa tốc độ, lao theo đường cũ, để lộ bụng.
Ông bóp cò. Loạt đạn bay ra như vệt sáng trắng đâm thẳng vào thân F-4. Chiếc máy bay Mỹ nổ tung thành quả cầu lửa khổng lồ.
Tiếng reo vang trong radio:
- Một chiếc! Một chiếc rồi anh Bảy ơi!
Nhưng ông không dừng lại.
Không thể dừng.
Phía đông, hai chiếc F-105 đang lao tới như hai mũi lao khổng lồ. Một chiếc đã khóa mục tiêu vào Bảy. Tín hiệu báo động của MiG gióng lên rợn sống lưng.
- Anh Bảy né đi! - đồng đội gào trong radio.
Nhưng thay vì né, ông lại tăng tốc, kéo máy bay lên cao, rồi bất ngờ lật ngửa. Động tác ấy táo bạo đến mức chỉ cần chênh nửa giây là máy bay sẽ rơi tự do.
Trong cú xoay ấy, chiếc F-105 nằm trọn trong tâm ngắm.
Lại thêm một tiếng nổ xé trời. Máy bay Mỹ bốc cháy, lao xuống rừng như hòn cầu lửa.
- Hai chiếc!!
Máu nóng trong người ông bừng lên. Bảy xoay ngang, lần này truy theo chiếc F-105 còn lại. Nó cố chạy nhưng không thoát được vòng bám dai dẳng của MiG-17. Chỉ 30 giây sau:
- Ba chiếc!
Cả đơn vị như nín thở. Có những lúc tiếng radio im đến lạ. Người ta không biết chiếc MiG bé nhỏ kia có còn sống sót giữa tầng tầng bom đạn của không quân Mỹ hay không.
Tiểu đoàn trưởng gầm lên:
- Bảy! Quay về! Địch đông quá!
- Còn máy bay Mỹ trên bầu trời Việt Nam tôi chưa về.
Trận chiến kéo dài suốt gần một giờ. Nguyễn Văn Bảy liên tục lượn vòng, bám đuôi, nhào lộn… như đang nhảy một vũ điệu tử thần ngay giữa bầu trời bom đạn. Đến cuối trận, ông đã bắn rơi tổng cộng bốn máy bay Mỹ chỉ trong một ngày, nâng tổng số máy bay bị bắn rơi trong sự nghiệp lên 7 chiếc thành tích khiến cả thế giới phải nghiêng mình.
Khi máy bay chạm đất, đội kỹ thuật chạy ùa đến. Bảy mở nắp buồng lái, tháo mặt nạ, mồ hôi chảy dài trên gương mặt rám nắng. Một cậu lính trẻ hỏi, giọng run run:
- Anh có sợ không?
Bảy cười, nụ cười hiền như nụ cười cha nông dân:
- Ai mà không sợ. Nhưng nếu mình không bay lên ai giữ bầu trời cho bà con mình?
Cậu lính trẻ cúi đầu. Bảy không chỉ là phi công. Ông là niềm tin, là biểu tượng.
Sau chiến tranh, Nguyễn Văn Bảy trở về quê, sống cuộc sống giản dị đến khó tin. Người anh hùng bầu trời, từng khiến không quân Mỹ khiếp đảm, lại trở về cầm cuốc, thả lưới bắt cá như một người nông dân bình thường.
Có người hỏi:
- Sao anh không ở lại Hà Nội cho tiện?
Bảy cười, giọng đặc miền Tây:
- Tao ở đâu cũng được, miễn gần đất, gần người. Anh hùng thì cũng phải sống như dân thôi. Má tao đẻ tao ra làm nông dân mà.
Ông nói đơn giản vậy. Nhưng đằng sau câu nói nhẹ tênh ấy là cả một đời hi sinh thầm lặng.
Nhiều đoàn học sinh đến thăm. Khi kể lại trận không chiến ngày ấy, giọng ông trầm xuống:
- Bay trên trời… sinh mạng nó mỏng như cái lá me non. Tao sống được… là vì tao nghĩ tao mà gục xuống thì cái thằng Mỹ nó sẽ ném bom xuống xóm tao, xuống nhà tao… tao không cho phép chuyện đó xảy ra.
Ông nhìn xa xăm:
- Mình thà chết trên trời… còn hơn để quê hương mình cháy.
Câu nói ấy khiến nhiều người rưng rưng.
Không hùng hồn.
Không văn hoa.
Nhưng nặng như hàng trăm trang sử.
-Năm 2019, ông mất ở tuổi 84. Ngày đưa ông, trời Đồng Tháp âm u một cách lạ thường. Gió từ những cánh đồng lúa thổi về, mang theo mùi bùn, mùi rơm… thứ mùi mà ông yêu hơn tất cả vinh quang mình từng có.
Hàng ngàn người dân đứng hai bên đường. Ai cũng cúi đầu. Người nông dân kiệm lời ấy, người phi công đã giữ từng tấc trời cho Tổ quốc, nằm lại giữa quê hương mình.
Bầu trời hôm ấy lặng lẽ.
Không có tiếng MiG-17, không có tiếng gầm động cơ.
Nhưng người ta tin rằng ở rất xa phía mây trắng kia bóng dáng một chiếc máy bay nhỏ vẫn đang lượn vòng trông coi quê hương.
Anh hùng Nguyễn Văn Bảy không còn nữa.
Nhưng câu chuyện thời hoa lửa của ông, con người đã viết nên lịch sử bằng bầu trời xanh và trái tim đỏ sẽ còn sống mãi trong lòng những thế hệ sau.



