Cựu chiến binh

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA - Trần Thị Trong

Bắc Ninh06/06/2026Trần Ly Na (Mầm non Nham Biền số 1)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bà không có tên trong sách sử!
Không ai dựng tượng, cũng chẳng có con đường nào mang tên bà.
Bà chỉ là một người rất bình thường trong làng nhỏ ven sông. Vì quá yêu quê hương đất nước, dưới lời kêu gọi của Bác Hồ năm 1946: “toàn dân kháng chiến” bà Thân Thị Trong sinh năm 1929 ( quê ở Làng Ảm, xã Tiền Phong) năm đó bà chưa tròn 18 tuổi đã viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Mang trong mình bao hoài bão của tuổi trẻ, gác lại tình yêu đôi lứa vừa chớm nở.

Những năm chiến tranh, bà là dân công hỏa tuyến. Ban ngày cuốc đất trồng khoai, ban đêm gánh gạo, tải đạn vượt rừng đưa ra mặt trận. Con đường bà đi không có ánh đèn, chỉ có ánh trăng lờ mờ và tiếng bom rền xa xa. Bà nhớ, có lần bom nổ gần, bà ngã xuống hố đất, gạo vương đầy áo. Bà vội vàng nhặt lại từng hạt, vì bà biết: ngoài kia, có những người lính đang chờ từng bữa ăn nhỏ bé ấy.

Bà không trực tiếp cầm súng, nhưng vai bà chai sần vì đòn gánh. Đôi bàn chân nứt nẻ vì bùn đất. Có những đêm mưa lạnh, bà run lên vì rét, nhưng vẫn bước tiếp, bởi bà tin rằng mỗi chuyến đi của mình sẽ góp thêm một chút sức mạnh cho tiền tuyến.

Hòa bình lập lại, bà trở về với ruộng đồng. Vẫn là người đàn bà ấy, lặng lẽ cày bừa, nuôi con, dựng lại mái nhà đổ nát sau chiến tranh. Khi người ta nhắc đến chiến công, bà chỉ cười hiền: “Có gì đâu, ai cũng làm vậy cả.”

Đi qua con đường lát gạch, phủ kín rêu, hai bên là hai hàng hoa Dâm Bụt. Bước vào căn nhà ngăn nắp, sạch sẽ, đơn sơ giản dị như chính con người bà vậy. Ngồi lặng im nghe bà kể lại mà thấy thấm từng nỗi đau. Nhớ lại những năm tháng ấy, bà không kìm nén được xúc động, rơi nước mắt bà nói: Trời chiều năm ấy, Điện Biên Phủ phủ kín một màu xám đục. Tiếng máy bay gầm rú xé toạc không gian yên tĩnh. Trong lòng quả đồi nhỏ, một tổ chiến sĩ đang trú ẩn trong hầm chữ A vừa đào xong chưa đầy hai tuần.

Hầm nhỏ, chỉ đủ cho sáu người ngồi nép sát nhau. Đèn pin đã tắt từ lâu để tránh lộ vị trí. Ai nấy đều im lặng, chỉ nghe rõ tiếng tim mình đập hòa cùng tiếng bom nổ dồn dập ngoài kia. Bỗng một tiếng nổ lớn vang lên, mặt đất rung chuyển dữ dội. Một quả bom rơi ngay trước cửa hầm. Đất đá đổ ập xuống. Cửa hầm bị bịt kín hoàn toàn.

Bên trong, không ai nói một lời. Bóng tối đặc quánh. Hơi đất, hơi thuốc súng tràn vào khiến mọi người khó thở. Một chiến sĩ trẻ cất tiếng, giọng run run:
- “Các anh… cửa hầm bị sập rồi.”

Người Tiểu Đội Trưởng bình tĩnh đáp:
- “Bình tĩnh. Còn thở là còn sống. Chúng ta sẽ ra được.”

Bà Trong cùng tiểu đội thay nhau dùng tay, dùng xẻng nhỏ đào đất từ phía trong. Mỗi nhát đào là một lần hy vọng. Nhưng đất đá bên ngoài quá nhiều, lại tiếp tục rung chuyển bởi những loạt bom khác. Không khí trong hầm dần cạn. Có người mệt lả, tựa vào vách đất nhưng không ai than vãn. Người tiểu Đội Trưởng cởi Bi Đông nước, chuyền từng ngụm nhỏ:
- “Chia đều. Ai cũng phải sống.”

Một chiến sĩ bị thương ở chân, máu thấm đỏ ống quần, cố mỉm cười:
- “Nếu không ra được… các anh cứ đào trước.”

Bà Trong nhớ như in Tiểu Đội Trưởng gằn giọng:
- “Không ai bị bỏ lại. Chúng ta vào sinh ra tử cùng nhau.”

Suốt nhiều giờ liền, bà Trong cùng tiểu đội đào trong bóng tối, trong cơn ngạt thở, bằng niềm tin mãnh liệt rằng đồng đội bên ngoài sẽ quay lại tìm và rồi… một tia sáng nhỏ lóe lên. Tiếng gọi vọng vào:
- “Có ai trong đó không?”

Cả hầm bật khóc.

Đồng đội đã quay lại, bất chấp bom đạn, đào cửa hầm suốt đêm. Khi bà Trong là người cuối cùng được kéo ra ngoài, nhìn thấy đồng đội bà đã òa ra khóc. Bà nói: “ Bà khóc không phải vì bà sợ. Bà khóc vì cảm động! Vì bộ đội ta không bỏ lại ai phía sau.” Ai cũng lấm lem bùn đất, nhưng ánh mắt sáng rực niềm tin.

Họ ôm chầm lấy nhau giữa khói bom còn chưa tan hết.

Hôm ấy, không ai hy sinh. Sau này, người Tiểu Đội Trưởng nói:

“Bom có thể làm sập cửa hầm, nhưng không bao giờ chôn vùi được tinh thần của người lính.”

Kể đến đây bà Trong nghẹn ngào, từng giọt nước mắt lăn trên gò má đầy những vết chân chim in hằn bởi thời gian. Bàn tay nhỏ gầy guộc, đầy vết đồi mồi, run run khẽ dở tấm ảnh chân dung cũ kĩ được chụp từ thời ấy ra bọc trong mảnh vải màu đỏ đã sờn rách. Bà nói: “ Lúc đó nhập ngũ được một thời gian ngắn, Tiểu Đội Trưởng chụp cho mỗi người một bức ảnh chân dung để nếu có lỡ bỏ mạng nơi chiến trường sẽ có ảnh để mà thờ”.

Hình ảnh chân dung của bà Thân Thị Trong thời đó.

Nghe bà nói đến đây, không khí trong ngôi nhà bỗng dưng chững lại, thời gian như ngưng đọng lại trước câu nói đó. Ai cũng hiểu điều đó thật tàn nhẫn đối với người con gái đang tuổi đẹp nhất của đời người. Nhìn gương mặt ấy thật đáng khâm phục bây giờ bà đã già, tóc đã bạc trắng, giọng trầm xuống bà nói tiếp: “lúc đó bà nghĩ bà đã không thể sống được nữa vì bom sập ngay cửa hầm, tiếng bom đánh xuống chói hết cả hai tai, bà cảm thấy không còn nghe được âm thanh gì nữa, mọi thứ xung quanh trở nên tĩnh lặng. Một lúc sau mới bình tĩnh lại được”. Trận đánh vẫn diễn ra ác liệt và kéo dài đến 23 giờ 30 phút cùng ngày. Kết thúc đợt tiến công thứ nhất, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống khoảng 2.000 lính Pháp, bắn rơi 25 máy bay, xóa sổ hoàn toàn cứ điểm Him Lam, phá vỡ cánh cửa phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến thắng mở màn đã khẳng định sức mạnh và nghệ thuật quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời làm lung lay nghiêm trọng tinh thần chiến đấu của quân địch.

Do không thể đánh phá sân bay Mường Thanh, quân Pháp buộc phải tiếp tế bằng đường không. Tuy nhiên, trước hệ thống phòng không ngày càng hiệu quả của ta, việc tiếp tế của địch gặp nhiều khó khăn. Chỉ riêng ngày 26 tháng 4, trong tổng số 150 tấn hàng tiếp tế, chỉ có 91 tấn rơi vào tay quân Pháp, còn lại 59 tấn đã rơi vào tay quân ta. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ rơi vào tình trạng thiếu nước, thiếu lương thực, thiếu thuốc men và đạn dược, tinh thần binh lính ngày càng suy sụp.

Tiếp đó, ngày 1 tháng 5 năm 1954, quân ta mở đợt tiến công thứ ba, tập trung đánh vào các cứ điểm còn lại. Đến rạng sáng ngày 2 tháng 5, quân Pháp phải rút chạy khỏi khu C. Ngày 6 tháng 5, quân ta đặt xong đường hầm ngầm dưới đồi A1 và cho nổ khối bộc phá lớn, phá vỡ hoàn toàn hệ thống phòng ngự then chốt của địch tại đây.

Bộ đội ta tiếp tục tiến công dồn dập, tiêu diệt các cứ điểm còn lại như A3, buộc quân địch rơi vào thế hoàn toàn tuyệt vọng. Trước sức tiến công mạnh mẽ, liên tục của quân ta, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã hoàn toàn tan rã, mở đường cho thắng lợi trọn vẹn của chiến dịch, ghi dấu son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.















Chiến thắng ấy không chỉ được làm nên bởi những trận đánh ác liệt, mà còn bằng xương máu, mồ hôi và ý chí kiên cường của biết bao con người đã ngã xuống trên mảnh đất Điện Biên lịch sử. Khi ấy, công tác hậu cần vô cùng gian khổ, mọi điều kiện sinh hoạt đều thiếu thốn, nhưng tinh thần chiến đấu của bộ đội ta chưa bao giờ suy giảm. Trong sâu thẳm trái tim mỗi người lính luôn cháy bỏng niềm tin vào thắng lợi và nỗi nhớ về những người thân yêu nơi hậu phương.

Dù khi lên đường họ còn rất trẻ, nhưng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, họ đã nhanh chóng trưởng thành, trở thành những chiến binh kiên cường. Những tháng ngày chiến đấu tại Điện Biên Phủ đầy gian nan, khốc liệt, song chính nơi đây đã tôi luyện nên bản lĩnh, ý chí và lòng quả cảm phi thường của người lính Cụ Hồ. Bởi lẽ, trên từng tấc đất chiến trường, họ đã viết nên hai chữ “Tự do” bằng máu, bằng mồ hôi và bằng cả tuổi thanh xuân của mình.

Ngày nay, khi chiến tranh chỉ còn lại trong những trang sách lịch sử, chúng ta khó có thể cảm nhận trọn vẹn những đau thương, mất mát mà thế hệ cha anh đã phải trải qua. Nhưng chỉ cần nhắc đến hai tiếng “hòa bình”, được đánh đổi bằng xương máu, mồ hôi và công sức của biết bao người lính như bà Thân Thị Trong, là đủ để mỗi chúng ta thêm trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và đất nước.

Những câu chuyện lịch sử được kể lại không chỉ để nhớ, mà còn để nhắc nhở thế hệ hôm nay mỗi người sống phải có trách nhiệm hơn, học tập và rèn luyện tốt hơn, phải biết ơn quá khứ, trân quý hiện tại và gìn giữ tương lai, xứng đáng với những hy sinh to lớn, cao cả của các các anh hùng liệt sĩ và những người lính năm xưa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn