Bài viết

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA “TỪ NGỌN LỬA NAM KỲ KHỞI NGHĨA TẠI LÀNG HÒA TÚ NĂM 1940 ĐẾN SỨ MỆNH THẾ HỆ TRẺ XÃ HÒA TÚ HÔM NAY”

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA “TỪ NGỌN LỬA NAM KỲ KHỞI NGHĨA TẠI LÀNG HÒA TÚ NĂM 1940 ĐẾN SỨ MỆNH THẾ HỆ TRẺ XÃ HÒA TÚ HÔM NAY”

Cần Thơ09/12/2025Trương Trung Hiếu (Đoàn xã Hoà Tú)7 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA “TỪ NGỌN LỬA NAM KỲ KHỞI NGHĨA TẠI LÀNG HÒA TÚ NĂM 1940 ĐẾN SỨ MỆNH THẾ HỆ TRẺ XÃ HÒA TÚ HÔM NAY”

Hôm nay, khi nhìn lên Quốc kỳ – lá cờ đỏ thắm với ngôi sao vàng năm cánh – chúng ta luôn nhớ rằng biểu tượng thiêng liêng ấy đã được thắp lên giữa những ngày đầy bão tố của dân tộc. Lá cờ ấy không chỉ là biểu tượng của một quốc gia độc lập, mà còn là kết tinh của khát vọng tự do, của ý chí quật cường và tinh thần quyết tử của những người con Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành lại quyền sống, quyền làm chủ vận mệnh dân tộc và khoảnh khắc lần đầu tiên xuất hiện hào hùng làm nên lịch sử của lá cờ ấy chính là cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940. Trong vô vàn điểm nổi dậy của cuộc khởi nghĩa tại tỉnh Sóc Trăng (nay thuộc thành phố Cần Thơ), làng Hòa Tú của quận Phú Lộc là nơi duy nhất quần chúng nổi dậy mạnh ở Sóc Trăng, gây tiếng vang lớn[1]. Nơi ấy, giữa những hàng dừa, bờ kênh và cánh đồng mênh mông, những người nông dân chân đất đã cùng nhau dựng lên ngọn cờ đỏ sao vàng – lá cờ lần đầu tiên phất cao trong một cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện đầu tiên trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940

Từ ngọn lửa Hòa Tú…

Xã Hòa Tú hiện nay là một trong 103 xã, phường của thành phố Cần Thơ (trước thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng). Địa danh Hòa Tú đã có từ lâu đời, chúng ta có thể hiểu Hòa Tú theo 02 nghĩa, theo tiếng Hán – Việt có nghĩa là lúa gạo, dồi dào còn theo tiếng Khmer (Prék-to) có nghĩa là con lạch, máng xối[2]. Làng Hòa Tú khi xưa rất sung túc, người dân yên vui chăm lo cuộc sống, thấy vậy hoàng đế Tự Đức khen ngợi và xuống chiếu sắc phong cho làng vào ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ V (tức năm 1852), được nhận dân trong làng phấn khởi và cùng nhau xây dựng ngay một ngôi đình đẹp, rộng rãi, khang trang để thỉnh sắc thần về thờ đó lả Đình Hòa Tú – nơi xuất quân của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tại làng Hòa Tú vào tháng 11 năm 1940.

Nơi xuất quân của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ tại làng Hòa Tú – Đình Hòa Tú (xưa và nay)

Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dấy lên cao trào cách mạng đấu tranh rộng khắp. Tại làng Hòa Tú vào tháng 01/1938, chi bộ Hòa Tú được thành lập do đồng chí Nguyễn Tấn Đạt làm Bí thư.

Tháng 9/1940, phát xít Nhật vào Đông Dương, Pháp đầu hàng Nhật. Nhân dân ta lại phải chịu cảnh một cổ hai tròng. Trước đó vào tháng 3/1940, ở Nam Kỳ đã có Đề cương khởi nghĩa Nam Kỳ, tháng 7/1940, Xứ ủy Nam Kỳ cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Trung ương xin ý kiến và phối hợp hành động (tuy nhiên do nhận thấy thời cơ chưa tới nên Trung ương quyết định đình cuộc khởi nghĩa giao cho đồng chí Phan Đăng Lưu về truyền đạt, do trên đường đồng chí còn có nhiệm vụ phổ biến Nghị quyết Trung ương 7 nên tới ngày 22/11/1940 đồng chí mới về tới Sài Gòn). Ngày 20/11/1940, do đồng chí Phan Đăng Lưu chưa về nên Thường vụ Xứ ủy đã họp khẩn cấp hạ lệnh cho tất các nơi đồng loạt khởi nghĩa vào 00 giờ ngày 23/11/1940, do giao thông liên lạc khó khăn nên đã chậm mất 14 tiếng đồng hồ mới đến được Hoà Tú.

Tại Hòa Tú, 14 giờ ngày 23/11/1940, lệnh khởi nghĩa của Xứ uỷ được chi bộ Hoà Tú tiếp nhận qua đồng chí Lâm Thị Kim đã được đồng chí Nguyễn Tấn Đạt giao nhiệm vụ hoả tốc mang về. Nhận được lệnh khởi nghĩa, đồng chí Văn Ngọc Chính (lúc này Bí thư Chi bộ Hòa Tú) đã triệu tập ngay cuộc họp chi bộ bất thường tại nhà mình, thống nhất ba vấn đề chính:

Thứ nhất, cử liên lạc nhanh chóng xuống các ấp thông báo tập trung lực lượng đã tổ chức từ trước, đến đình làng (tức Đình Hòa Tú) ngay để làm lễ xuất quân.

Thứ hai, phân công từng đảng viên và cán bộ chủ chốt phụ trách các tổ chức phản đế, kịp thời ứng phó trong quá trình diễn biến khi khởi nghĩa.

Thứ ba, cho lệnh bắt ngay giáo Vàng, Tuần Ngọ, Tuần Mai là những tay sai tề làng để làm tê liệt sự phản kháng của tuần đinh, dùng Tuần Ngọ kêu cửa bắt hương quản Tệt. Chi bộ đề cử 06 người trong ban chỉ huy khởi nghĩa gồm có các đồng chí: Văn Ngọc Chính (chỉ huy chung), Tư Bối, Hà Thành Nguyên, Lý Thanh Sử, Trần Văn Tấn và Lương Đơn Quế.

Chi bộ vừa họp xong, đông đủ mọi người từ các ấp trong làng với vũ khí thô sơ cầm chặt trong tay: gậy gộc, giáo mác, kích, phảng, búa, đến nhà đồng chí Văn Ngọc Chính và qua tập trung trước sân đình (khoảng 20 giờ ngày 23/11/1940). Trước giờ xuất quân, đồng chí Văn Ngọc Chính trân trọng phát biểu với anh em nghĩa quân và tuyên thệ: “Hôm nay, Xứ uỷ đã quyết định toàn xứ Nam kỳ nổi dậy. Tại làng Hoà Tú này, chi bộ Đảng cùng nhân dân khởi nghĩa diệt đồn Cổ Cò, buộc địa chủ ác ôn giao lại đất cho tá điền làm chủ, đồng thời nhân dân ta đứng lên giành lấy chính quyền. Chúng tôi, những người cộng sản quyết cùng với nhân dân làng Hoà Tú thề chiến đấu đến cùng, bất cứ tình thế nào cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ”.

Sau đó, lực lượng chia ra đi hai hướng theo sự phân công của Ban chỉ huy.

- Cánh quân thứ nhất do đồng chí Tư Bối và Trần Văn Tấn chỉ huy, tiến đánh nhà tên Hương quản Tệt. Cánh này thực hiện đúng kế hoạch và lấy được 01 khẩu súng cùng một số viên đạn.

- Cánh quân thứ hai do đồng chí Văn Ngọc Chính và đồng chí Hà Thanh Nguyên chỉ huy, tiến đánh đồn Cổ Cò. Trấn đóng tại đây có 04 tên lính với đủ súng và đạn dược, do tên cai Tốt chỉ huy. Nghĩa quân bao vây, đánh mõ, hô lớn nhằm uy hiếp tinh thần bọn lính trong đồn và kêu gọi chúng đầu hàng. Ta kêu gọi nhiều lần nhưng bọn lính vẫn không chịu mở cửa. Theo lệnh chỉ huy của đồng chí Văn Ngọc Chính, nghĩa quân đạp cửa xông vào đồn. Hốt hoảng trước khí thế áp đảo của quân khởi nghĩa, bọn lính tuy có súng nhưng vẫn không dám chống cự. Cuối cùng, cai Tốt và hai tên nữa nhảy xuống sông Cổ Cò chạy trốn. Nghĩa quân xông vào bắt được tên bếp Nhành, thu toàn bộ vũ khí (gồm 4 khẩu súng) và đốt sổ sách giấy tờ của địch. Cuộc khởi nghĩa của làng Hoà Tú giành thắng lợi hoàn toàn vào lúc 2 giờ khuya ngày 24 tháng 11 năm 1940.

Cuộc khởi nghĩa ở làng Hoà Tú nổ ra thắng lợi, nhưng vì nhiều nơi khác không kịp phối hợp nổi dậy nên kẻ thù đã tập trung được lực lượng và đàn áp dập tắt cuộc khởi nghĩa. Tuy nhiên, tầm vóc của cuộc khởi nghĩa hết sức lớn lao, nhân dân Hoà Tú từ tay không đã dũng cảm vùng lên chiến đấu giải phóng quê hương, xoá bỏ xích xiềng nô lệ, nổi bật vai trò của chi bộ Đảng mà đứng đầu là đồng chí Văn Ngọc Chính. Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ tại làng Hoà Tú mà linh hồn của nó là chi bộ Hoà Tú, mãi mãi đi vào lịch sử truyền thống đấu tranh vẻ vang của nhân dân ta.

Sứ mệnh của thế hệ trẻ xã Hòa Tú hôm nay

Trên mảnh đất từng làm nên sự kiện lịch sử ấy, thế hệ trẻ xã Hòa Tú bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với một sứ mệnh không kém phần lớn lao – xây dựng quê hương giàu mạnh, gìn giữ bản sắc văn hóa và tiếp tục nuôi dưỡng khát vọng độc lập, tự cường.

Nếu ngày xưa thế hệ cha ông “lấy thân mình làm ngọn lửa” trong khởi nghĩa, thì hôm nay thế hệ trẻ Hòa Tú phải là những người tiên phong trong tri thức, khoa học kỹ thuật, chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp hiện đại và bảo vệ môi trường sinh thái vùng sông nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, mỗi người trẻ không chỉ mang trong mình lòng tự hào về trang sử của quê hương mà còn phải biến lòng tự hào ấy thành hành động cụ thể: học tập nghiêm túc, tự rèn luyện kỹ năng, sáng tạo trong khởi nghiệp, mạnh dạn làm kinh tế dựa trên lợi thế địa phương – từ nuôi trồng thủy sản đến phát triển du lịch cộng đồng, văn hóa lịch sử.

Sứ mệnh của thế hệ trẻ Hòa Tú hôm nay còn nằm ở việc giữ gìn tinh thần đoàn kết – điều đã tạo nên sức mạnh của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ nói chung và tại Hòa Tú nói riêng. Trong bối cảnh mới, đoàn kết không chỉ là đồng lòng trong đấu tranh, mà còn là cùng nhau chia sẻ tri thức, hỗ trợ nhau trong công việc, lan tỏa tinh thần nhân ái và trách nhiệm với cộng đồng. Từ các phong trào thanh niên tình nguyện, xây dựng nông thôn mới, đến việc chủ động tham gia bảo tồn di tích lịch sử, mỗi hành động dù nhỏ bé đều góp phần làm cho giá trị lịch sử của Hòa Tú sống lâu trong lòng thế hệ hôm nay và mai sau.

Sẽ đến một ngày, những người trẻ đứng trước Quốc kỳ, như cha ông từng đứng, cảm nhận sâu sắc rằng lá cờ ấy không chỉ được dựng bởi máu xương quá khứ mà còn được gìn giữ bởi trí tuệ và nỗ lực không ngừng nghỉ của thế hệ hiện tại. Đó chính là sứ mệnh của thanh niên Hòa Tú – mang tinh thần Nam Kỳ khởi nghĩa vào công cuộc xây dựng quê hương trong thời đại mới, để màu đỏ của lá cờ hôm nay rực sáng bằng những công trình, tri thức, và khát vọng vươn lên.

Tài liệu tham khảo
[1] Trần Giang (1996), Nam Kỳ khởi nghĩa 23 tháng Mười Một năm 1940, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.231.[2] Hội Nghiên cứu Đông Dương (2019), Địa lý học: Tự nhiên, kinh tế & Lịch sử Nam Kỳ tập XI (1904) Chuyên khảo về tỉnh Sóc Trăng, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, tr.59.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn