Câu chuyện thời hoa lửa Văn Tiến Dũng
Văn Tiến Dũng: Đại tướng QĐND Việt Nam, Tổng Tham mưu trưởng, chỉ huy nhiều chiến dịch lớn, góp phần giải phóng miền Nam
VĂN TIẾN DŨNG
(1917-2002)
Ông sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Tham gia cách mạng năm 1936, vào Đảng tháng 11-1937.
Tham gia các phong trào cách mạng từ năm 1936, năm 1944 bị thực dân Pháp bắt, ông đã vượt ngục ra tiếp tục hoạt động. Tháng 1-1945, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.
Ông được phân công chỉ đạo việc chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền trong
Cách mạng tháng Tám 1945 ở các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá.
Sau Cách mạng tháng Tám, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến khu II làm Chính uỷ chiến khu, tham gia Quân uỷ trung ương. Tháng 12-1946, làm Cục trưởng cục chính trị QĐNDVN, Phó bí thư Quân uỷ Trung ương. Đầu năm 1948 được phong quân hàm Thiếu tướng QĐNDVN. Tháng 10-1949 đến năm 1950, làm Chính uỷ liên khu III, sau đó kiêm Tư lệnh quân khu.
Từ tháng 11-1953 đến tháng 5-1978 là Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN. Ông đã trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (1971), chiến dịch giải phóng Quảng Trị (1972), chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975) và Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn – Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Được thăng cấp Đại tướng QĐNDVN từ tháng 4-1974. Từ tháng 5-1978, được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ Phó bí thư thứ nhất Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (2–1980).
Được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (2–1951), Uỷ viên Trung ương, Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị khoá III (3-1960) Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (từ tháng 3-1972). Tại Đại hội Đảng lần thứ IV (12–1976), được bầu làm Uỷ viên Trung ương Đảng và Uỷ viên Bộ Chính trị. Được bầu làm đại biểu quốc hội và uỷ viên Hội đồng quốc phòng từ khoá II (1960) đến khoá VII (1981 – 1986).
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3-1982) được bầu vào BCH TƯĐ và Uỷ viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986) được bầu vào BCH TƯĐ được phân công chỉ đạo công tác tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và biên soạn lịch sử quân đội.
Do công lao và thành tích hoạt động cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh (1979), Huân chương Sao vàng (1995), nhiều huân chương cao quý khác, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.



