Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA: VẸN GIỮ LỜI THỀ CÙNG NON SÔNG...

Ngày hôm nay, tôi sống trong sự bảo bọc của mẹ cha, trong tình thương ấm áp và một cuộc sống chẳng lo nghĩ suy điều gì. Tuổi mười sáu, tôi thấy mình may mắn khi đủ đầy và hạnh phúc đến thế. Nhưng cuộc sống của anh, năm mười sáu, liệu có giống tôi không? Người chiến sĩ năm nao, người chiến sĩ năm nào, cuộc sống anh gắn liền với mưa bom bão đạn, với 81 ngày đêm lấy thân mình che chở thành cổ. Sông chảy xiết trên máu xương nơi anh rơi xuống, hoa nở rồ rộ trên mảnh đất anh nằm... Người chiến sĩ thàn

Đà Nẵng29/12/2025Hồ Phương Thảo (Chi đoàn 10 chuyên Văn - Đoàn trường THPT chuyên Lê Thánh Tông - Phường Hội An Tây)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA: VẸN GIỮ LỜI THỀ CÙNG NON SÔNG...

Ông ngoại tôi là bộ đội, từng tham gia chiến tranh, niềm tự hào của ông là những tháng ngày lấy thân mình chở che cho thành cổ. Ông kể ngày còn thanh niên ông sung sức và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc lắm, khi ấy ông không sợ chết vì dù cho có thịt nát xương tan mà giữ được nền độc lập ông cũng thấy thật tự hào...

Thế hệ yêu nước trao lửa bằng trái tim, trái tim hướng về Tổ quốc của ông tiếp cho tôi thêm sâu sắc trước những ký ức hào hùng. Mà, câu chuyện ông kể ngày ấy không sao tôi quên được, câu chuyện về người lính tên Lê Văn Huỳnh, ra đi mà vẹn giữ lời thề với non sông.

“Ông ơi, thế là người ta đi lính khi còn trẻ vậy hở ông, không biết họ có tiếc khi phải ra đi sớm như vậy không... ông nhỉ?”

Thuở mười lăm, tôi nghĩ “Phải tiếc lắm chứ, những tuổi hai mươi ra đi khi chưa kịp tận hưởng trọn vẹn thanh xuân tuổi trẻ, làm sao người ta chấp nhận nổi?”. Nhưng dừng lại tuổi hai mươi, anh nào có tiếc gì tuổi xuân của mình khi đánh đổi bằng độc lập của Tổ quốc. Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, trong bức thư anh gửi cho gia đình trước linh cảm về cái chết, có sự tự hào khi không thẹn với lời thề cùng non sông: “Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng ở bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con thoải mái bay đi…Thôi nhé, mẹ đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau.”. Hóa ra, một con người có thể sống vĩ đại và cao cả đến thế, một con người có thể hi sinh vì độc lập và tự do của dân dộc. Những người chiến sĩ thành cổ, tôi hình dung họ chỉ là những sinh viên đại học, còn lắm khát khao và lí tưởng. Nhưng phải gác lại đi thôi, vì đất nước, vì nhân dân mà sống trọn với câu hứa năm nào “Ra đi mang nặng lời thề, chưa thắng giặc Mỹ chưa về Bách khoa”.

“Ông ơi, còn trẻ đến vậy mà sao họ chẳng ở lại với người mình yêu nhỉ ông? Vợ của họ, hẳn đã phải đau lòng lắm...”

Làm sao ta có thể sống mà không yêu, không thương, không nhớ bất kì kẻ nào. Làm sao người ta nỡ tuyệt tình mà rời khỏi tiếng gọi của tình yêu. Nhưng tình yêu thời chiến, hóa bất tử nhờ sự hi sinh cao cả. Trong bức thư gửi gia đình, Liệt sĩ đã viết tiếp đôi lời gửi vợ: “lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất…Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều. Em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh…”. Tình yêu hóa thành trách nhiệm trước Tổ quốc, còn thương và nỗi nhớ hẵn còn da diết nhưng ta phải xa nhau thôi, hẹn ước ngày hòa bình ta lại gặp nhau dưới màu hoa đại ngàn... Giữa chiến tranh, hóa ra người đã sống cao cả đến thế, hóa ra người chấp nhận đánh đổi hạnh phúc của mình để thấy một người mẹ được gặp lại đứa con thơ sau những ngày thất lạc, để thấy một người vợ còn được thấy chồng sau bao tháng năm lìa xa. Người trên tiền tuyến và người ở hậu phương, chẳng có nỗi đau nào đau hơn nỗi đau nào và dầu cho âm dương biệt ly ẩn chứa ngàn nỗi đau, Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh và bà Đặng Thị Xơ hẳn đã tự hào vì hoàn thành sứ mệnh trước hồn thiêng Tổ quốc:

Cởi áo thư sinh mặc áo lính

Gác lại chữ tình

Phục chữ binh...

“Ông ơi, chiến tranh đau đớn đến vậy, nhưng cũng đẹp và hào hùng quá ông nhỉ.

Ông ơi... cháu cũng muốn được làm bộ đội”

Tôi còn nhớ câu chuyện ngày ấy ông kể tôi nghe, câu chuyện mà cuối cùng nhen nhóm trong lòng một đứa trẻ lên mười ước mơ được sống cống hiến cho đất trời Việt Nam. Tôi mượn câu chuyện của Liệt sĩ để tri ân những người lính còn nằm trên thành cổ Quảng Trị. Tôi mượn câu chuyện về thành cổ năm nào để tưởng nhớ đến những cống hiến của cả một thế hệ “hoa lửa”.

Ta đi qua một thời hào hùng của cả một dân tộc quyết giữ nền độc lập được vẹn nguyên trên từng tấc đất vùng trời. Ta đi qua, nhưng không được phép quên những ký ức hoa lửa ấy, chúng cần được sống mãi, cần luôn được khơi dậy để người ta biết mình đang cầm bút vì từng có những người cầm súng, mình đang đứng thẳng vì từng có những người đã ngã xuống, mình còn được sống, được vui và hạnh phúc vì có những người đã hi sinh, đã đau đớn và kêu gào thảm thiết...

Có những gương mặt, chẳng thể nhớ mặt đặt tên. Có những gương mặt, tôi chẳng hề quen biết. Có hề gì! Vì hôm nay tôi sống trên mảnh đất ông cha tôi gầy dựng nên dẫu gương mặt ấy vô danh, ta vẫn khắc tên người, anh lính quả cảm năm nào, trong trái tim ta.

Cảm ơn anh

Người lính năm nào

Vì có anh

Chúng em mới viết tiếp nỗi khát khao ngày ấy

Khát khao hòa bình, khát khao tự do

Mà anh ơi, ta đã làm được rồi

Ta đã hoàn thành được ước vọng năm nào

Đất nước hòa bình rồi... Anh ơi!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn