🔥 CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA VÕ QUÝ HUÂN – NGƯỜI ĐẶT NHỮNG VIÊN GẠCH ĐẦU TIÊN CHO NGÀNH LUYỆN KIM KHÁNG CHIẾN
Kỹ sư Võ Quý Huân đã đem kiến thức kỹ thuật về phục vụ kháng chiến, góp phần xây dựng những lò luyện gang, thép đầu tiên trong điều kiện chiến tranh. Câu chuyện nhắc thế hệ trẻ về giá trị của tri thức, tinh thần tự lực và khả năng biến kiến thức thành những đóng góp thiết thực cho đất nước.
Có những người góp sức cho kháng chiến bằng vũ khí.
Nhưng cũng có những người làm một công việc ít được nhắc đến hơn:
Tạo ra nguyên liệu và nền tảng kỹ thuật để những công xưởng kháng chiến có thể hoạt động.
Kỹ sư Võ Quý Huân là một trong những người như thế.
Ông sinh năm 1912 tại Thanh Chương, Nghệ An. Trước khi về nước, ông đã học tập và làm việc tại Pháp, có ba bằng kỹ sư về cơ điện, đúc và kỹ nghệ chuyên nghiệp. Năm 1946, ông theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Việt Nam để phục vụ kháng chiến, kiến quốc.
TỪ MỘT KỸ SƯ Ở PHÁP ĐẾN NHỮNG CÔNG XƯỞNG TRONG RỪNG
Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, đất nước thiếu thốn gần như mọi thứ.
Máy móc thiếu.
Nguyên liệu thiếu.
Cơ sở sản xuất cũng thiếu.
Trong hoàn cảnh đó, Võ Quý Huân được giao tham gia xây dựng các cơ sở kỹ nghệ phục vụ kháng chiến.
Ông cùng đồng nghiệp tìm cách tận dụng những điều kiện sẵn có để nghiên cứu, chế tạo máy móc và từng bước xây dựng nền móng cho ngành đúc – luyện kim.
Đây là công việc đòi hỏi rất nhiều kiến thức kỹ thuật nhưng lại phải thực hiện trong điều kiện vật chất vô cùng hạn chế.
MẺ GANG ĐẦU TIÊN
Sau nhiều tháng nghiên cứu và thử nghiệm, một lò cao được xây dựng tại Cầu Đất, huyện Con Cuông, Nghệ An.
Ngày 15/11/1948, lò cao thí nghiệm có dung tích khoảng nửa mét khối đã cho ra mẻ gang đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đây là một dấu mốc quan trọng đối với ngành đúc – luyện kim trong những năm đầu kháng chiến.
Mẻ gang ấy không chỉ có ý nghĩa về mặt kỹ thuật.
Gang có thể được sử dụng làm nguyên liệu cho các xưởng quân giới sản xuất vũ khí và cũng phục vụ một số nhu cầu sản xuất khác.
Từ một lò cao giữa điều kiện kháng chiến, một hướng đi mới cho việc chủ động nguyên liệu đã được mở ra.
KHOA HỌC KHÔNG CHỈ NẰM TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Sau đó, Võ Quý Huân tiếp tục tham gia nghiên cứu và xây dựng các cơ sở luyện kim.
Tại Nà Làng, Tuyên Quang, cuối năm 1950, mẻ thép đầu tiên được luyện thành công trong lò hồ quang thí nghiệm.
Trong những năm 1951–1953, lò gang ở Như Xuân, Thanh Hóa sản xuất được gần 400 tấn gang phục vụ các xưởng quân giới và một số hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Những con số ấy cho thấy một điều:
Trong chiến tranh, khoa học kỹ thuật không phải câu chuyện xa rời thực tế.
Một lò luyện kim thành công có thể giúp giải quyết vấn đề nguyên liệu.
Một thiết bị được chế tạo tại chỗ có thể giúp các xưởng tiếp tục hoạt động.
Một kiến thức kỹ thuật được truyền lại có thể tạo ra thêm nhiều người có khả năng làm việc.
TỪ LÒ LUYỆN KIM ĐẾN LỚP HỌC
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Võ Quý Huân tiếp tục dành tâm huyết cho công tác đào tạo.
Đầu năm 1955, ông được giao làm Hiệu trưởng Trường Kỹ nghệ thực hành, với nhiệm vụ đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề phục vụ công cuộc khôi phục công nghiệp.
Tháng 2/1955, khóa trung cấp kỹ thuật đầu tiên được khai giảng. Ông trực tiếp giảng dạy và tham gia xây dựng những giáo trình đào tạo kỹ thuật đầu tiên.
Như vậy, câu chuyện của Võ Quý Huân không dừng lại ở một mẻ gang.
Từ việc tạo ra vật liệu, ông tiếp tục góp phần đào tạo con người.
Và đó có lẽ là một trong những giá trị đáng nhớ nhất của cuộc đời một kỹ sư đã dành kiến thức của mình cho đất nước.
CÂU CHUYỆN DÀNH CHO TUỔI TRẺ HÔM NAY
Ngày nay, chúng ta có những phòng thí nghiệm hiện đại hơn, máy móc tốt hơn và điều kiện học tập thuận lợi hơn rất nhiều.
Nhưng câu chuyện của Võ Quý Huân vẫn đặt ra một bài học:
Kiến thức chỉ thực sự có giá trị khi được biến thành năng lực giải quyết những vấn đề của thực tế.
Học một ngành nghề.
Làm chủ một kỹ năng.
Nghiên cứu một vấn đề.
Đào tạo lại cho người khác.
Mỗi việc đều có thể trở thành một cách đóng góp cho xã hội.



