Câu chuyện thời hoa lửa VVH A2.5
Bà mẹ Việt Nam anh hùng – Trần Thị Viết
HS: Vũ Thị Trang - 0987396310
Giữa vùng đất Đồng Tháp Mười mênh mông sông nước, nơi từng thấm đẫm dấu chân của bao lớp người đi giữ nước, có một người mẹ mà cuộc đời là bản trường ca của hy sinh và lòng yêu nước – Mẹ Trần Thị Viết (1892-2011) .Mẹ lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng đất Nam Bộ. Cuộc đời Mẹ sớm gắn liền với những nhọc nhằn, lam lũ. Mười bảy tuổi, Mẹ lấy chồng , bắt đầu cuộc sống của một người phụ nữ tảo tần, sớm hôm lo cho gia đình. Nhưng có lẽ, Mẹ không ngờ rằng cuộc đời mình sau này lại gắn liền với những mất mát quá lớn lao.
Mẹ sinh được mười người con. Đó lẽ ra phải là niềm hạnh phúc trọn vẹn của một người mẹ. Nhưng đất nước lúc ấy chìm trong chiến tranh, và những đứa con của Mẹ, lớn lên không chỉ bằng dòng sữa ngọt mà còn bằng tinh thần yêu nước, đã lần lượt bước vào con đường cách mạng.
Năm 1952, anh Nguyễn Văn Liễng - con trai đầu lòng của Mẹ tham gia Công an xã Tuyên Bình Tây. Đến tháng 6/1953 thì hy sinh, lần lượt các anh: Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Văn Kiểng, Nguyễn Văn Tạo và Nguyễn Văn Yến tiếp bước cha anh lên đường đánh giặc. Cuối năm 1958, Mẹ Viết nhận hung tin anh Nguyễn Văn Tạo hy sinh ở tuổi 22 với chức danh Tiểu đội trưởng Đội du kích xã. Chẳng bao lâu sau, anh Kiểng - Đội trưởng Đội du kích, con trai thứ ba của cụ, hy sinh. Năm 1959, Mẹ Viết tiễn hai con vừa trưởng thành là Nguyễn Văn Trị và Nguyễn Văn An ra trận. Đến Tết năm 1963, cụ Viết nhận tin dữ là anh Trị cướp súng giặc không thành, bị địch bắt, xử bắn tại Mộc Hóa. Rồi đến con trai út - anh Nguyễn Văn Dẫu vào chiến trường chống Mỹ. Nguyễn Văn Bi, cháu nội đích tôn - con liệt sĩ Nguyễn Văn Liễng năm ấy vừa mới lớn, cũng tiếp bước cha và các chú lên đường tham gia cách mạng.Trong trận Mậu Thân 1968, anh Tám Dẫu hy sinh ở chiến trường Mỹ Tho. Năm 1971, anh Nguyễn Văn Anh - cán bộ binh vận xã cũng hy sinh. Năm 1972, người con trai Nguyễn Văn An của Mẹ tiếp tục ngã xuống chiến trường Đồng Tháp Mười.
Đến khi tuổi đã cao, Mẹ vẫn phải chịu thêm những nỗi đau chồng chất. Chồng Mẹ qua đời, để lại Mẹ một mình gánh vác gia đình. Có lúc, Mẹ xuống tóc quy y nơi cửa Phật, mong tìm chút bình yên cho tâm hồn đã quá nhiều thương tổn. Nhưng ngay cả nơi cửa chùa, chiến tranh vẫn không buông tha Mẹ. Kẻ thù bắt giam, tra tấn Mẹ, ép Mẹ khai ra tung tích các con. Nhưng Mẹ kiên cường, không hé một lời. Dù thân xác đau đớn, Mẹ vẫn giữ trọn lòng trung với cách mạng. Sau giải phóng, Mẹ về sống cùng vợ chồng cháu nội (tên là Bình - con trai liệt sĩ Nguyễn Văn Dẫu). Những năm tháng cuối đời, Mẹ không còn khóc nhiều nữa. Nỗi đau dường như đã lắng lại thành một sự trầm mặc. Mẹ kể chuyện cho con cháu nghe, hát những câu ru xưa, như giữ lại một phần hồn của quê hương, của ký ức. Năm 1994, Nhà nước phong tặng Mẹ danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” – một danh hiệu cao quý nhưng cũng chất chứa biết bao mất mát. Đó không chỉ là sự ghi nhận, mà còn là lời tri ân của cả dân tộc đối với một người mẹ đã hiến dâng gần như tất cả những gì mình có.
Mẹ sống đến 119 tuổi. Một đời người dài, nhưng cũng là một đời gắn với bao biến động của đất nước. Khi Mẹ nhắm mắt xuôi tay, có lẽ Mẹ đã thanh thản – vì những hy sinh của mình và của các con không hề vô nghĩa. Ngày nay, nơi nhà tưởng niệm Mẹ, dòng người vẫn đến thắp hương, tưởng nhớ. Không chỉ để tri ân một người mẹ, mà còn để nhắc nhở chính mình về giá trị của hòa bình, của độc lập – những điều đã được đánh đổi bằng máu và nước mắt.
Câu chuyện về Mẹ Trần Thị Viết không chỉ là câu chuyện của riêng một con người. Đó là biểu tượng cho hàng ngàn, hàng vạn bà mẹ Việt Nam đã âm thầm hy sinh, góp phần làm nên dáng hình Tổ quốc.



