Câu chuyện về AHLLVT Đỗ Thế Chấp
Năm 2007, khi huyện Núi Thành có chủ trương đặt lại tên trường theo tên các danh nhân văn hoá, các Anh hùng dân tộc Việt Nam…tôi và thầy Nguyễn Hoàng (lúc bấy giờ là Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tam Xuân 3-Trường Tiểu học Đỗ Thế Chấp hiện nay) đã cùng bàn bạc trao đổi và thống nhất đề nghị lãnh đạo huyện đặt tên trường mang tên một vị Anh hùng của chính mảnh đất Tam Xuân Anh hùng. Bởi nhiều lẽ, mà trong đó có 2 niềm suy nghĩ chính giữa tôi và thầy, đó là: đồng chí là người sinh ra, lớn lên, tham gia hoạt động cách mạng trên chính mảnh đất Tam Xuân. Hơn nữa, ngôi trường lại ở gần bên ngôi nhà đầy kỷ niệm của đồng chí, vì vậy vừa thuận tiện cho việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh trong giáo dục truyền thống, vừa có điều kiện để các thầy cô giáo cũng như các em học sinh thường xuyên thăm viếng, chăm sóc làm cho ngôi nhà sạch đẹp hơn. Đồng chí chính là AHLLVT Đỗ Thế Chấp, nguyên Bí thư Huyện uỷ Tam Kỳ (cuối 1957-10/1959); (4/1961-12/1962); Bí thư Thị uỷ Tam Kỳ-Phụ trách Đảng bộ huyện Nam Tam Kỳ (3/1967-4/1967) ; Bí thư Huyện uỷ Nam Tam Kỳ (12/1972-12/1973); Phó Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam (11/1969-10/1975); Bí thư Huyện uỷ Tam Kỳ (10/1975-12/1982); Trưởng đoàn chuyên gia tại tỉnh Battambong, Trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia.
Đồng chí tên thật là Đỗ Thế Điện, bí danh Đỗ Thế Mười, Đỗ Quyết; là con trai út trong gia đình nông dân nghèo. Sinh ngày 10/02/1922 tại làng Trường An, tổng Đức Tân, phủ Tam Kỳ.
Năm 1938, khi mới 16 tuổi đã được tuyên truyền giác ngộ về Đảng Cộng sản, từ đó đã giác ngộ cách mạng và đến năm 20 tuổi thì được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (20/3/1942), sinh hoạt ở chi bộ Sông và được cử vào ban vận động cứu quốc tổng Đức Tân, phủ Tam Kỳ.
Đến tháng 4/1942, trong lúc hoạt động cách mạng, đồng chí bị địch bắt, nhưng với tinh thần cách mạng cao cả ông không khuất phục trước kẻ thù mặc dầu bị rất nhiều đòn roi của địch giáng xuống. Không khai thác được gì ở đồng chí, chúng đưa xuống giam ở nhà lao Hội An cho đến tháng 7/1945 mới ra tù. Ra tù về lại địa phương, đồng chí tiếp tục móc nối cơ sở tại các tổng Phước Lợi-Đức Tân, phủ Tam Kỳ để tuyên truyền vận động tập hợp quần chúng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Đồng chí được cử vào Uỷ ban bạo động tổng khởi nghĩa. Sau Cách mạng tháng Tám thành công, đồng chí được điều động công tác ở huyện Tiên Phước, sau đó được bầu vào BTV Tỉnh đoàn Quảng Nam-Đà Nẵng. Năm 1950 đồng chí được điều về công tác ở Tam Kỳ và được bầu vào Huyện uỷ phụ trách công tác văn hoá xã hội. Sau khi có Hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng chí được Đảng phân công ở lại hoạt động bí mật và đổi tên thành Đỗ Thế Chấp (Mười Chấp). Từ năm 1951, cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn “tích cực cầm cự, chuyển mạnh sang tổng phản công”, đã có nhiều đợt thanh niên tòng quân lên đường giết giặc, riêng Tam Kỳ đã huy động trên 10.000 dân công phục vụ, đồng chí nhận nhiệm vụ làm chính trị viên đưa đoàn dân công đi phục vụ chiến trường Măng Đen, Măng Bút, An Khê, Pleiku.
Ngày 7/5/1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơ ne vơ, kết thúc chiến tranh, đất nước hoà bình được một nữa từ vĩ tuyến 17 trở ra. Đồng chí chuyển sang phục vụ đường dây, tổ chức đưa cán bộ di chuyển, đi tập kết ở miền Bắc. Đến năm 1956 Đồng chí được Khu uỷ điều về làm Phó bí thư Huyện uỷ, sau đó Bí thư Huyện uỷ thay cho đồng chí Huỳnh Hoà vào cuối năm 1967. Nhận nhiệm vụ Bí thư Huyện uỷ giữa thời kỳ bộn bề khó khăn, vì lúc ấy trên chủ trương không cho dùng súng, một số cán bộ của ta hy sinh hoặc sa vào tay địch, đồng chí lập tức phân công các Huyện uỷ viên về đứng cánh, lập đường dây, nối các xã trong huyện, nối vùng Đông với vùng Tây; vừa bảo tồn được lực lượng, vừa xây dựng cơ sở mới phát động phong trào. Lúc bấy giờ giá trị cái đầu của đồng chí được bọn địch treo giá 1 triệu đồng nếu bắt sống hoặc giết chết, nếu ai chỉ chỗ được trả 500.000 đồng (tương đương 10 cây vàng lúc bấy giờ). Đồng chí bàn bạc cùng với các đồng chí Nguyễn Mậu Đông, Vũ Ngọc Hải (Tư Chuyển) làm sao phải giữ lửa cách mạng trong quần chúng nhân dân. Lần hồi đã xây dựng lại được nhiều cơ sở cách mạng hợp pháp trong vùng địch. Qua đó đã hội tụ được các đồng đội, nối đường dây từ biển lên trên nguồn, tạo ra hành lang an toàn trong quá trình hoạt động cách mạng. Cuối năm 1959 đồng chí được phân công phụ trách đường dây kinh tế của Liên khu từ Tắc Pỏ xuống Tứ Mỹ. Tháng 1 năm 1960 đồng chí được Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng bầu vào BCH Đảng bộ tỉnh và phân công hoạt động ở nội ô Tam Kỳ thực hiện nhiệm vụ mở đường dây vận chuyển lương thực lên vùng căn cứ kháng chiến. Trong thời gian này đồng chí đã tổ chức được một đội quân mang tên “Ban kinh tài và Ban thu mua cung ứng cho cách mạng”, bộ phận này đã làm tốt công tác phục vụ kháng chiến. Rồi làm Bí thư Huyện uỷ Bắc Tam Kỳ, Thị xã Tam Kỳ-Phụ trách Đảng bộ Nam Tam Kỳ, đồng chí thường xuyên xuống cơ sở để vận động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kèm, đấu tranh chống âm mưu phá hoại của địch. Xây dựng thêm nhiều cơ sở cách mạng, dựa vào đó để phát huy thanh thế cách mạng. Tháng 3 năm 1967 khi đồng chí Hồ Truyền-Bí thư Huyện uỷ Nam Tam Kỳ hi sinh, đồng chí phụ trách thêm Đảng bộ Nam Tam Kỳ trong một tháng. Đại hội Đảng bộ tỉnh tháng 10 năm 1967 đồng chí được bầu lại vào BCH Đảng bộ và là UV BTV Tỉnh uỷ Quảng Nam, năm 1969 được bầu làm Phó bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chính trị viên Tỉnh đội, năm 1973 được bầu lại làm Phó bí thư Tỉnh uỷ kiêm Trưởng Ban An ninh. Từ thời gian này đồng chí đã có những đóng góp to lớn cùng với Tỉnh uỷ lãnh đạo, chỉ đạo phong trào trong tỉnh liên tiếp giành những thắng lợi, chỉ đạo kiên quyết trụ bám, giữ dân, giành đất và sau đó là phá vỡ âm mưu tràn ngập lãnh thổ của nguỵ quyền sau khi đã ký Hiệp định Pari.
Trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với nhiệm vụ được phân công là phụ trách cơ quan thường trực Tỉnh uỷ, trực tiếp chi viện cho tiền phương, đồng chí đã làm tốt công tác ổn định vùng mới giải phóng, phát động quần chúng ở Thị xã Tam kỳ ổn định trật tự trong toàn thị xã. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, 2 huyện Nam Tam Kỳ, Bắc Tam Kỳ và Thị xã Tam Kỳ nhập lại làm một, đồng chí được Tỉnh uỷ phân công về làm Bí thư Huyện uỷ Tam Kỳ. Nhiệm vụ mới sau giải phóng cũng nặng nề không kém, nào là khắc phục hậu quả của chiến tranh, phá dở bom mìn, phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới XHCN. Khó khăn nhất là tổ chức cho hàng ngàn người dân từ các khu dồn về lại quê củ làm ăn, vận động nhân dân vùng lòng hồ Phú Ninh đi xây dựng quê hương mới, nhường đất xây dựng công trình đại thuỷ nông của tỉnh. Lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng huyện Tam Kỳ vững mạnh về mọi mặt.
Đến năm 1982, mặc dù đã bước sang tuổi 60, nhưng đồng chí vẫn xung phong làm trưởng đoàn chuyên gia sang giúp tỉnh bạn Battambang-Campuchia, sau nhiệm kỳ thứ 2 ông được Đảng và Nhà nước cử làm Trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1990, đồng chí được Đảng và Nhà nước cho nghĩ hưu; với những cống hiến trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 3 Huân chương Gải phóng hạng Nhất, Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Ăng Co của Nhà nước Campuchia.
Ở con người đồng chí, có rất nhiều điều để chúng ta tìm hiểu kỷ về ông, song có một điều mà bản thân tôi tâm đắc nhất, có tính giáo dục cho thế hệ hôm nay, nhất là lực lượng thanh niên. Đó là: trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn đến đâu đồng chí cũng dùng trí thông minh, sự sáng tạo để vượt qua khó khăn thử thách đó. Tiêu biểu là những năm sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, số cán bộ của ta tập kết ra Bắc, số còn lại phải hoạt động bí mật, nhân dân bị bọn nguỵ quân, nguỵ quyền hăm doạ đủ điều, rồi bắt bớ thủ tiêu những người có họ hàng thân thích với những người hoạt động cách mạng, nhất là số mà chúng biết ở lại nằm vùng hoạt động bí mật như Mười Chấp. Đồng chí nhận định, dân không xấu, song sợ kẻ thù dấu mặt, mục tiêu tấn công của địch nhằm vào đó để tấn công là rất có tác dụng. Vì vậy, nếu không biết cách tiếp cận với dân, làm cho nhân dân bớt sợ, giữ ánh lửa tinh thần yêu nước nồng nàn trong dân, thì ánh lửa đó sẽ tắt. Vì những người dân đã từng tin theo Đảng, những người dân có cảm tình với Đảng sẽ nghĩ cách mạng bị đẩy ra xa rồi. Đồng chí đề xuất với Huyện uỷ chuyển dân vùng giải phóng về sống hợp pháp trong vùng địch, đây là một chủ trương nhạy bén và đã phát huy tác dụng. Nhờ đó mà phong trào cách mạng được giữ vững, xây dựng được những đường dây thông tin liên lạc, báo cáo tình hình cho Huyện uỷ kịp thời. Tổ chức nhiều cuộc đấu tranh đòi thường xuyên được về quê sản xuất, buôn bán, đời sống nhân dân không những được cải thiện mà còn cung cấp lương thực thực phẩm cho cơ quan của huyện, của tỉnh. Cái chính là tạo dựng lại lòng tin của nhân dân với Đảng, để nhân dân tin rằng Đảng luôn sát cánh cùng với quần chúng nhân dân, xây dựng phong trào cách mạng, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng: dù khó khăn đến đâu Đảng vẫn là chỗ dựa của nhân dân. Không chỉ tập trung ở các xã vùng Tây, vùng Bắc, nội ô Tam Kỳ mà phải mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng phong trào cách mạng một cách toàn diện, đều khắp các xã trong toàn huyện, đồng chí cùng tập thể quyết định phải tìm cơ sở mới, bất ngờ để duy trì ánh lửa đó trong lòng người dân, rồi cùng với những đồng chí được phân công ở lại ông tiến xuống vùng Đông, lần hồi xây dựng cơ sở và góp phần đưa phong trào cách mạng đi đến thành công. Đồng chí có nhiều cách đánh địch thật táo bạo, vào ngay sào huyệt của địch để truy bắt những tên chỉ huy của địch. Có lúc cải trang mặc đồ lính nguỵ, phát ngôn theo kiểu lính nguỵ để đến những nơi chúng đóng quân, vào nhà những tên ác ôn vũ trang diệt ác, rải truyền đơn. Khi xây dựng công trình thuỷ lợi Phú Ninh, thì công tác vận động quần chúng cũng cam go không kém thời kỳ kháng chiến. Những năm cam go nhất sau 1954, đồng chí và những người đồng chí về dựa vào những người dân vùng bán sơn địa này (Kỳ Yên, Kỳ Trà), họ giấu, cho ăn, cùng chịu cực khổ với chính ông và các đồng đội, rồi khuyên họ “Một tấc không đi, một ly không rời”. Hoà bình lập lại, bà con đang khai hoang, phục hoá, tháo dở bom mìn, dọn vườn làm nhà, nay cuộc sống đang từng ngày hồi phục thì các anh, trong đó có đồng chí lại bảo dở nhà đi. Tâm trạng đi rồi sống sao đây, nhà cửa, vườn tược, mồ mả ông bà bỏ cho ai thì đi làm sao cho đành đã làm cho người dân chồn bước. Đồng chí lại trực tiếp đến vận động từng bà con, kêu gọi tinh thần yêu nước, vì mục tiêu chung của bà con và nhất là phát huy tinh thần yêu nước của họ. Động viên nhân dân nói được và phải làm được, kể cả bản thân đồng chí cũng phải như vậy. Khi đó nhân dân thông tư tưởng rồi mọi việc đều thuận lợi.
Rồi, ở cái tuổi 60 đồng chí lại xung phong (khi bà Tiến vợ ông hỏi: vì sao tỉnh lại cử ông đi sang nước bạn; ông trả lời: “Tao xung phong”) làm trưởng đoàn chuyên gia sang Campuchia, đến nơi ông thấy cơ quan của đoàn chuyên gia từ ngoài vườn cho đến trong nhà đều là hầm, đủ các loại. Đồng chí cho lấp hầm và cho mua giường để mọi người ngủ; thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với anh em chiến sĩ và bà con người Campuchia. Đồng chí tâm niệm: “Mình đối xử tốt với họ thì họ cũng đối xử tốt với mình, thì mới cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ…”. Lúc bấy giờ ai đến chiến trường Campuchia đều sợ, song ở bên đồng chí thì cảm thấy ít sợ, dần dần cảm thấy yên tâm, thoải mái. Và như vậy đồng chí đã ở Campuchia 3 nhiệm kỳ (gần 9 năm), là con người “tóc bạc, mà ý chí còn xanh”, được cử làm trưởng đoàn chuyên gia của Việt Nam tại Campuchia từ nhiệm kỳ thứ ba khi ở nước bạn.
Ở con người đồng chí là vậy, khi đã nhận nhiệm vụ, dù xung phong hay được phân công đều tìm mọi cách để hoàn thành một cách tốt nhất. Khi về hưu năm 1990 (Trong cuốn: Núi Thành những người con kiên trung-tập 1, dòng 6 từ dưới lên ghi là năm 1989), lúc đã bước sang tuổi 79. Tuy vậy, đồng chí vẫn có nhiều đóng góp cho địa phương trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. Đặc biệt là trong công tác xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trước sự khủng hoảng và sụp đổ của Chủ nghĩa Xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô.
Đồng chí là người cộng sản kiên trung, bất khuất; trong suốt cuộc đời cống hiến công sức, trí tuệ của mình cho Đảng, cho phong trào cách mạng, và xây dựng quê hương đất nước sau ngày hoà bình lập lại. Bất cứ công việc gì cũng đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Những lúc khó khăn, cam go, ác liệt, gian khổ nhất đồng chí vẫn bám phong trào, dũng cảm, mưu trí, tiên phong và đi đầu thể hiện bản lĩnh của một người cán bộ của dân, của Đảng. Luôn luôn được nhân dân tin tưởng, mến phục và nhờ đó mà lúc nào đồng chí cũng được nhân dân che chở, ủng hộ. Gần gũi với quần chúng, nói đi đôi với làm, chỗ nào khó khăn đồng chí luôn xung phong, giải quyết nhanh chóng, hiệu quả. Luôn giữ mối quan hệ mật thiết với đồng chí, đồng đội vì vậy đồng chí luôn được tin yêu và tổ chức tin tưởng khi giao nhiệm vụ cho ông. Đồng chí cũng là người làm Bí thư Huyện uỷ Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ, Tam Kỳ (sau hoà bình) nhiều nhất trong số các đồng chí Bí thư tại mảnh đất phủ Tam Kỳ, huyện Núi Thành, trên 12 năm. Chứng tỏ, đồng chí được sự tín nhiệm của cấp trên, sự tín nhiệm của tập thể Đảng bộ huyện và của cả quần chúng nhân dân. Với 48 năm dài, từ khi vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến lúc nghĩ hưu, đồng chí đã giành trọn đời mình cho cách mạng, cho nhân dân. Góp phần cùng tập thể làm nên cuộc trường kỳ kháng chiến, đem lại độc lập-tự do cho mọi nhà mọi nhà.
Hôm nay, những người con của đồng chí, không những phát huy phẩm chất tốt đẹp của ông và gia đình năm xưa để lại, ra sức thi đua trên mọi lĩnh vực; mà còn tiếp bước chân đồng chí, tích cực tham gia giúp đỡ nhân dân địa phương nói riêng và nhân dân cả nước nói chung cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhất là các thầy cô giáo và các em học sinh ở ngôi trường mang tên đồng chí, luôn được gia đình đồng chí quan tâm, tạo điều kiện; trong đó có chị Đỗ Thị Thu Thuỷ.
Là người con của vùng đất Núi Thành Anh hùng, nơi có những cán bộ lãnh đạo Anh hùng, các thế hệ nối tiếp nhau không những nhắc về, nhớ về ngày hôm qua với những quá khứ hào hùng, trong đó có đồng chí, mà còn với một lòng biết ơn, sự tự hào. Trách nhiệm của chúng ta hôm nay, noi gương đồng chí viết tiếp vào trang sử vẻ vang của Núi Thành những thành quả mới trong thời kỳ cách mạng mới, cách mạng xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Điều bản thân tôi cũng như, thầy và trò Trường Tiểu học Tam Xuân 3 phấn khởi nhất là năm 2007 huyện đã Quyết định cho đổi tên thành Trường Tiểu học Đỗ Thế Chấp. Đây không những là vinh dự cho nhà trường, mà còn là nhiệm vụ nặng nề giao phó cho toàn trường, và cũng là niềm vinh dự của gia đình Anh hùng LLVT Đỗ Thế Chấp. Xác định được nhiệm vụ đó, trong những năm từ 2007 đến nay, các thầy cô giáo và học sinh toàn trường đã nỗ lực phấn đấu thi đua trong dạy và học. Xây dựng trường học ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng và đã được công nhận Trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1. Không những thế, thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, năm 2011 tập thể nhà trường là đơn vị thực hiện xuất sắc cuộc vận động này và được Huyện uỷ Núi Thành biểu dương. Đó cũng là phần thưởng mà tập thể thầy và trò nhà trường nỗ lực để xứng đáng với vinh dự về ngôi trường mang tên vị Anh hùng LLVT-Đỗ Thế Chấp.
Từ đây, ngoài việc tập trung dạy và học, các thế hệ thầy cô giáo cũng như học sinh của trường có dịp tìm hiểu nhiều hơn, kỷ hơn, sâu hơn và làm tăng giá trị Anh hùng của ngôi trường mang tên Anh hùng LLVT Đỗ Thế Chấp. Lớp lớp thế hệ học sinh tiếp theo của nhà trường sẻ được giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng thông qua những trang sử viết về đồng chí-người Anh hùng của quê hương. Để thấy được rằng: chúng ta đang sống trên quá khứ vinh quang mà các thế hệ ông cha đi trước đã để lại hôm qua. Hôm nay, mỗi một thanh thiếu niên trên mãnh đất Tam Xuân nói riêng và Núi Thành nói chung, lại bước tiếp truyền thống đó, ra sức rèn đức, luyện tài, vì ngày mai lập nghiệp. Tên tuổi của đồng chí sẽ mãi mãi đi vào lịch sử của quê hương.



