Cựu chiến binh

Câu chuyện về Binh đoàn than huyền thoại

An Giang16/06/2026HOÀNG GIANG - DƯƠNG TRƯỜNG (ĐCS VKSND tỉnh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Câu chuyện về Binh đoàn than huyền thoại

Trong các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân. Nhờ tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" ấy mà nền độc lập tự do của dân tộc được bảo vệ; từng tấc đất, vùng biển, khoảng trời của Tổ quốc ta được giữ gìn toàn vẹn chủ quyền. Trong những trang sử vẻ vang ấy, câu chuyện về Binh đoàn Than luôn sống động trong ký ức người Vùng mỏ. Năm 1967 những người thợ mỏ đã hăng hái tình nguyện lên đường nhập ngũ, lập nhiều chiến công hiển hách.

Từ năm 1964, vùng than Quảng Ninh có rất nhiều sự kiện cách mạng điển hình, cổ vũ khí thế lao động, chiến đấu dâng lên những đợt sóng lớn. “Đợt sóng” đầu tiên chính là ngày 5/8/1964, quân và dân Quảng Ninh đã bắn rơi 2 máy bay trên bầu trời TX Hòn Gai, chiến thắng không lực của đế quốc Mỹ ngay trận đầu tiên chúng mở đợt tấn công phá hoại miền Bắc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có mặt tại Hồng Gai ngày 5/8/1964. Sách "Lịch sử Đảng bộ TP Hạ Long giai đoạn 1930-2010", do NXB Chính trị Quốc gia ấn hành, trích lời cố Thủ tướng: "Tôi rất vui mừng được thấy trận đầu đánh thắng đế quốc Mỹ của các đồng chí. Tôi chuyển lời khen ngợi của Trung ương Đảng, của Bác Hồ đến với toàn thể cán bộ, chiến sĩ phòng không, hải quân, công an, dân quân tự vệ và toàn thể nhân dân Hồng Gai Anh hùng". Sau chiến thắng vẻ vang ấy, khi về chúc Tết Ất Tỵ (1965) ở Vùng mỏ, Bác Hồ cũng đã dành lời khen ngợi cho quân và dân Quảng Ninh.

binh đoàn than 1.jpg

Binh đoàn Than làm lễ xuất quân năm 1967

Những năm tiếp theo đó, hàng loạt các phong trào cách mạng được đẩy mạnh ở Quảng Ninh, như: “Thợ mỏ phất cao cờ hồng”, “Vì miền Nam ruột thịt”, “Trai cơ khí anh hùng quyết lập công mùa thao diễn, Gái thợ mỏ đảm đang sẵn sàng vượt mức thi đua"... Khi Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi "Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước" quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Hồ Chủ tịch vào lúc 6 giờ ngày 17/7/1966, toàn thể quân và dân Quảng Ninh đều thấm nhuần lời dặn dò ấy của Người. Rằng kẻ thù dù có hung bạo đến đâu, dù có lắm súng nhiều tiền đến đâu thì cũng không thể thắng được nhân dân Việt Nam; cái chính nghĩa phải thắng cái phi nghĩa; cái văn minh phải thắng bạo tàn. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn...

Tháng 7/1967, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Trung ương đã cho phép tỉnh Quảng Ninh và ngành Than lần đầu tiên tổ chức một đợt tuyển quân quy mô lớn. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, những người thợ mỏ đã hăng hái làm đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ, dù họ thuộc diện được ưu tiên ở lại để làm nhiệm vụ sản xuất tại khai trường, hầm lò, sản xuất than cho Tổ quốc. Nhưng trước yêu cầu lịch sử, lắng nghe tiếng gọi của miền Nam ruột thịt, những người thợ mỏ đã có chung một quyết định sắt đá: Ngưng tay búa, tay máy để lên đường vào Nam chiến đấu. Nhiều người trong số họ còn trích máu, viết huyết tâm thư xin được cùng đồng đội cầm súng ra tiền tuyến.

binh đoàn than 2.jpg

Cuộc tuyển quân diễn ra hết sức khẩn trương. Chỉ trong vòng 4 ngày từ 27-30/7/1967, tỉnh Quảng Ninh và ngành Than đã huy động được khoảng 2.000 người, chủ yếu là cán bộ, công nhân ngành Than, Điện, số ít còn lại là cán bộ, công nhân một số cơ quan đơn vị và con em nhân dân Quảng Ninh. Quân số này được tập hợp thành 3 tiểu đoàn: Tiểu đoàn 385, Tiểu đoàn 386 và Tiểu đoàn 9. Trong đó, tất cả thành viên của Tiểu đoàn 385 và Tiểu đoàn 386 là thợ mỏ ở khu vực Hòn Gai và Cẩm Phả. Tiểu đoàn 9 là tập hợp quân số của nhiều ngành nghề, với khoảng 900 người.

binh đoàn than 3.jpg

Quang cảnh lễ xuất quân của Binh đoàn Than tổ chức tại sân Cây Tháp (TX Hòn Gai) năm 1967

Cái tên Binh đoàn Than dù không phải phiên hiệu chính thức trong Quân đội, nhưng đã được đặt chung cho lực lượng này, khơi gợi khí thế hào hùng của những người lính. Danh hiệu Binh đoàn Than đã đi vào lịch sử của giai cấp công nhân mỏ và lịch sử cách mạng tỉnh Quảng Ninh; là một minh chứng hùng hồn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giữa thế kỷ XX. Còn với những người lính khi đó, danh hiệu Binh đoàn Than như một lời nhắc nhở về quê hương, nguồn cội, trở thành động lực cho mỗi bước hành quân.

Ngày 30/7/1967 Binh đoàn Than làm lễ xuất quân lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Đây là đợt xung phong tòng quân lớn nhất của Quảng Ninh tính đến bây giờ. Trong ký ức của nhiều người có mặt tại TX Hòn Gai chiều hôm ấy vẫn còn nhớ về hình ảnh những tân binh còn mặc áo thợ đứng chật sân rạp Bạch Đằng tại phố Cây Tháp (nay là phố Lê Thánh Tông, phường Bạch Đằng, TP Hạ Long), kéo dài đến tận phà Bãi Cháy. Sự kiện rất được quan tâm, nên không chỉ gia đình của các chiến sĩ đến tiễn người thân, mà còn có đông đảo nhân dân cùng có mặt để gửi lời động viên, cổ vũ. Có những nỗi niềm khác nhau đã được nhắn gửi giữa người ra đi, người ở lại, nhưng lớn hơn cả chính là tinh thần cách mạng dâng trào trong mỗi người con Vùng mỏ. Họ quyết tâm chưa hết giặc chưa trở về quê hương. Câu nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý, thôi thúc Binh đoàn Than hăm hở lên đường.

binh đoàn than 4.jpg

Tiểu đoàn 9 tham gia huấn luyện tại TX Đông Triều, sau đó hành quân thẳng vào Kon Tum. Tiểu đoàn 385 và Tiểu đoàn 386 huấn luyện tại Hòa Bình, đến tháng 12/1967 thì hành quân vượt dãy Trường Sơn, hướng thẳng tới mặt trận Khe Sanh, Quảng Trị. Thông tin về việc thành lập Binh đoàn Than nhanh chóng được phía địch nắm bắt. Nửa tháng sau khi xuất quân, thông tin trinh sát của ta cho biết: Đài BBC loan tin rằng có một binh đoàn đặc nhiệm của Quân đội Việt Nam đang hành quân vào Nam. Thế là giặc Mỹ ra sức tìm diệt binh đoàn ấy dọc suốt đường hành quân, hòng chặn đứng một lực lượng tinh nhuệ, kỷ luật cao, sức khỏe tốt đang trên đường hướng thẳng về tiền tuyến. Dù vậy cũng không thể cản bước của lực lượng này, bởi động lực của họ chính là phẩm chất kiên trung và tinh thần "Kỷ luật và Đồng tâm" của thợ mỏ luôn tỏa sáng trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Danh tiếng của Binh đoàn Than đã được thể hiện qua mỗi trận đánh. Trong đó phải để đến trận đầu tiên tại Quảng Trị năm 1968, tức là chỉ chưa đầy 1 năm sau khi Binh đoàn xuất quân từ Bến phà Bãi Cháy. Vào thời điểm đó, sân bay Tà Cơn là một trong những căn cứ điểm quân sự chiến lược của Mỹ tại chiến trường Khe Sanh với địa hình như một thung lũng lòng chảo được bao bọc xung quanh những đồi núi. Giặc Mỹ xây dựng một tập đoàn phòng ngự kiên cố nhất ở vùng địa đầu miền Nam Việt Nam gồm các cứ điểm: Làng Vây - Chi khu quân sự Hướng Hóa - cụm cứ điểm phòng ngự sân bay Tà Cơn. Các máy bay trinh sát cất cánh từ sân bay Tà Cơn làm nhiệm vụ kiểm tra, chỉ điểm cho nhiều hoạt động đánh phá, ngăn chặn và cắt đứt các tuyến đường Hồ Chí Minh... Vì vậy, việc tiến công vào cứ điểm Làng Vây được Quân ủy Trung ương xác định là trận đánh then chốt mở đầu Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, nhằm đạt mục đích chiến lược là kéo và kìm giữ một phần lực lượng cơ động chiến lược quan trọng của địch.

Mặc dù được xem như một pháo đài bất khả chiến bại với hệ thống công sự phòng ngự dày đặc, kết hợp với các cao điểm kế cận để hình thành nên một thế phòng ngự liên hoàn, cơ động..., sân bay Tà Cơn vẫn phải chịu thất thủ trước mưu trí của quân đội ta. Khe Sanh - Hướng Hóa là huyện đầu tiên của Quảng Trị và của miền Nam hoàn toàn được giải phóng. Trong đó, Binh đoàn Than đã góp sức cùng toàn quân tiêu diệt 20 vạn tên địch, phá hủy hàng nghìn máy bay, xe quân sự... Cả thế giới biết đến Khe Sanh như là “Trận Điện Biên Phủ thứ hai”. Thắng lợi vang dội đó của quân và dân ta đã giúp triệt tiêu một cứ điểm trọng yếu của địch, là điều kiện thuận lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 giành thắng lợi. Đồng thời tiếp thêm niềm tin vững chắc để quân và dân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau năm 1968, từ 3 tiểu đoàn ban đầu, những người lính Binh đoàn Than được chia ra, bổ sung vào các trung đội, tiểu đội khác nhau ở các đơn vị mới, tiếp tục chiến đấu. Lịch sử còn ghi lại nhiều trận đánh vang dội của những người con Đất mỏ trên các chiến trường. Có người ở lại tham gia giải phóng Tây Nguyên, chiến đấu các trận đánh Plây Cần, Ngọc Hồi, Sa Thầy, Kon Tum..., hoặc vượt đèo Phượng Hoàng, đánh sân bay Chư Cúc, giải phóng Nha Trang. Có người tham gia các chiến dịch Xuân Hè 1969, chiến dịch Thu Đông 1970-1971, Xuân 1971. Có mũi tiến công hướng về miền Tây Nam Bộ, đánh vào sào huyệt Quân cảng Kho xăng Nhà Bè; tiêu diệt các cứ điểm cầu Mương Chuối, Long An; rồi đánh địch trên sông Rạch Dừa...

Niềm tự hào Binh đoàn Than gắn với những tin vui báo công liên tiếp chuyển về Vùng mỏ, trở thành niềm tự hào vô bờ bến của khắp các gia đình, nhà máy, xí nghiệp, đơn vị. Điển hình: Chiến sĩ Nguyễn Xuân Hùng (công nhân Tuyển than Hòn Gai) cùng đồng đội bắn cháy 2 xe tăng, 1 xe cơ giới; chiến sĩ Nguyễn Đức Bình (thợ mỏ Đèo Nai) cùng đồng đội đánh Kho xăng Nhà Bè, thiêu hủy hàng vạn lít xăng dầu; Tiểu đội trưởng Phạm Ngọc Niếp (thợ mỏ Thống Nhất) dũng cảm mưu trí, cùng đồng đội bắn chìm 1 tàu chiến của Mỹ - Ngụy... Rất nhiều đồng chí khác đã chiến đấu anh dũng, được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt xe cơ giới, Huân chương Giải phóng... Danh tiếng của những người lính Binh đoàn Than trở thành niềm tự hào của nhân dân Vùng mỏ, đồng thời cũng là nỗi khiếp sợ của kẻ thù.

Đặc biệt, trong trận quyết đấu cuối cùng, nhiều chiến sĩ của Binh đoàn Than đã tham gia lực lượng tiến vào giải phóng Sài Gòn. Trưa ngày 30/4/1975 có 50 chiến sĩ thuộc Binh đoàn Than được bổ sung cho Trung đoàn 28, theo mũi tấn công thẳng đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu Ngụy, chứng kiến tận mắt thời điểm lịch sử khi cánh cổng Dinh Độc Lập bị xe tăng 390 húc đổ. Quân ta đã làm chủ sào huyệt cuối cùng của địch. Tổng thống Ngụy là Dương Văn Minh buộc phải lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước quân giải phóng. Lá cờ cách mạng với ngôi sao vàng rực rỡ đã tung bay trên nóc phủ Tổng thống Ngụy, kết thúc 20 năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta.

Chiến công hiển hách, thắng lợi vẻ vang có được là nhờ tinh thần sẵn sàng hy sinh vì cách mạng, vì dân tộc của những người chiến sĩ. Binh đoàn Than năm xưa đã hướng thẳng về chiến trường miền Nam với quyết tâm sắt đá của toàn dân tộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chỗ nào khó khăn, gian khổ ác liệt nhất, họ sẵn sàng có mặt, đi mũi tiên phong, quyết giành thắng lợi. Thống kê sau năm 1975, có hơn 300 người lính Binh đoàn Than năm ấy không bao giờ trở lại; gần 400 người là thương binh hoặc bị phơi nhiễm chất độc da cam.

Hoàn thành nhiệm vụ trong quân ngũ, đa số người lính Binh đoàn Than đã phục viên, chuyển ngành trở về quê hương. Những người đủ sức khỏe ngay lập tức trở lại với ngành Than như lời thề ngày xuất quân, cần mẫn lao động, cống hiến với tinh thần cách mạng, xung kích vẫn nguyên vẹn như khi còn tại ngũ. Nhiều người trong số đó được bổ nhiệm các chức vụ trong các đơn vị, xí nghiệp, tiếp tục cống hiến nhiều năm cho tới khi nghỉ chế độ. Dù ở cương vị công tác nào, hay khi đã nghỉ hưu, họ vẫn tiếp tục là đầu tàu gương mẫu trong nhiều phong trào thi đua từ cơ sở.

Binh đoàn Than ra trận, lập nên nhiều chiến công hiển hách là sự kết hợp của chủ nghĩa yêu nước với tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” của giai cấp công nhân Vùng mỏ. Câu chuyện về Binh đoàn Than huyền thoại mãi là niềm tự hào cho thế hệ trẻ tiếp bước cha ông, là động lực cho các phong trào thi đua xây dựng ngành Than và quê hương Vùng mỏ văn minh, giàu đẹp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn