Câu chuyện về chàng lính Trịnh Văn Tường (1941-1982) sinh sống An Giang huyện Phú Tân
Trong ký ức của những người từng trải qua chiến tranh có một thời mà người ta gọi bằng cái tên rất đẹp“ Thời Hoa Lửa“., Đó là thời tuổi trẻ cháy lên những giấc mơ riêng, mà bởi khát vọng lớn hơn chính mình. Câu chuyện của Tường- Chàng lính trẻ quê ở sông Vàm – Là một trong những ký ức như thế, giản dị mà sáng bừng.
Trong ký ức của những người từng trải qua chiến tranh có một thời mà người ta gọi bằng cái tên rất đẹp“ Thời Hoa Lửa“., Đó là thời tuổi trẻ cháy lên những giấc mơ riêng, mà bởi khát vọng lớn hơn chính mình. Câu chuyện của Tường- Chàng lính trẻ quê ở sông Vàm – Là một trong những ký ức như thế, giản dị mà sáng bừng.
Tường sinh ra trong một gia đình làm nghề đóng ghe. Cả tuổi thơ anh gắn liền với tiếng bào gỗ, mùi nhựa thông và những buổi chiều đuổi cá linh ven bến. Anh từng nghĩ cuộc đời mình rồi sẽ trôi qua bình yên từng ngày., nhưng đến năm anh 19 tuổi, chiến tranh nổ ra. Những con ghe vốn dùng để chở gạo lại chuyển sang vận chuyển thương binh và lương thực. Và tường, chàng trai cao gầy hay cười giờ đây anh bước vào một cuộc đời sinh tử, phục vụ cho đất nước. Ngày tiễn Tường ra trận, Hân - cô bạn thanh mai trúc mã đưa cho anh mảnh gỗ nhỏ được mài nhẵn và khắc dòng chữ “Quê Đợi”, Một , món quà đơn sơ nhưng mang theo tất cả điều mà tường muốn giữ trong lòng. Anh cất nó vào túi áo, Áp vào ngực như muốn giữ trong lòng. Cuộc sống chiến trường khác hẳn so với cuộc sống trước đây những đêm canh gác, hành quân xuyên rừng, những tháng ngày tắm nước suối lạnh buốt hay những đêm mấy anh em chia nhau từng mảnh khoai sắn. Khi ở đây anh đã học được nhiều điều: Biết thương đồng đội như anh em ruột thịt, biết đặt sự sống của người khác lên trên nỗi sợ của chính mình. Một lần, Tường nhận nhiệm vụ từ đơn vị giữ một điểm quan trọng. Kẻ địch tấn công dữ dội đạn pháo cày nát rừng núi. Đêm ấy, tường cùng người đồng đội thân cận nhất - Thức- Khiêng thương binh ra khỏi vùng nguy hiểm. Khi quay lại, thức bị một mảnh pháo găm vào vai, máu chảy xối nhưng vẫn cười nói: “ về được tới quê còn may”.Tường Siết chặt bàn tay bạn, cảm nhận nhịp đập yếu dần và lần đầu tiên trong đời hiểu rằng hòa bình không bao giờ là điều dễ có được. Những tháng ngày sau đó, tường tiếp tục kiên trì đấu tranh, tiếp tục hành quân, sinh tồn trong cái đói khát, bệnh tật với cả nỗi lo không biết ngày mai mình còn có thể đứng lên không. Nhưng mỗi lần nhìn mạch gỗ khắc chữ “quê đợi” ấy, ý chí quyết tâm của anh ngày càng trở nên to lớn, sục sôi.
Cho đến một ngày, chị có thể là vào một buổi chiều cuối mùa khô, tin chiến thắng lan tới đơn vị. Tiếng reo hò vang cả rừng, tường đứng lặng người, bàn tay nắm chặt mảnh gỗ ấy, anh thì thầm:“Hân ơi anh về”. Ngày trở về, con đường đầy bụi đất nhưng rộn ràng tiếng cười Từng bước từng bước chậm chạp hồi hộp bồi hồi. Trước hiên nhà, Hân đang vá lại chiếc lưới cũ. Nghe tiếng anh gọi, cô ngẩng đầu lên. Ánh mắt họ gặp nhau, ánh mắt đã vượt qua biết bao năm tháng để tìm lại nhau. Khuôn mặt hân ngày ấy, bây giờ dường như đã khác cô đã trưởng thành đứng đắn. Không cần lời nào, Hân chạy đến ôm lấy anh. Mảnh gỗ nhỏ năm ấy nằm im trong tay anh, ấm nóng như chính nhịp đập của tuổi trẻ đã cháy hết mình cho hòa bình.
Chiến tranh đã qua nhưng ký ức ấy ở lại nó như ngọn lửa thắp sáng cả một thời. Đó chính là thời hoa lừa, thời mà mỗi trái tim bé nhỏ đều rực cháy để giữ nước đứng vững. Nhưng chú bộ đội chính là những người vĩ đại, họ đều có cho mình một ý chí sắt đá, sẵn sàng hy sinh bất cứ lúc nào vì tổ quốc. Họ chính là những tấm gương sáng, là một niềm tự hào to lớn đối với đất nước Việt Nam.



