Khác

Câu chuyện về chiếc bồ tải gạo lên Điện Biên

Câu chuyện về chiếc bồ tải gạo lên Điện Biên

Quảng Trị01/04/2026Hoàng Thủy (Đoàn cơ sở Thuế tỉnh Quảng Trị)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối năm 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp ở Tây Bắc bước vào giai đoạn quyết định. Tin chiến thắng từ khắp mặt trận liên tiếp dội về. Đồng nghĩa là nhu cầu lương thực, thuốc men, đạn dược cũng lớn hơn. Người em trai Nguyễn Diên vinh dự có mặt trong đội hình Đại đoàn 308, đánh Pháp ở Điện Biên. Ông Nguyễn Đình lúc đó đã 33 tuổi, cùng 19 nông dân khỏe mạnh của xã Quỳnh Hoa được chọn gánh gạo, muối tiếp tế cho bộ đội “ăn no, đánh thắng”.

Trong cái đói ăn thiếu mặc quay quắt, với một lòng hướng về kháng chiến, hướng về Điện Biên, người dân Quỳnh Hoa đã đóng góp 600kg gạo, 100kg muối cho chiến trường. 20 dân công trong xã có nhiệm vụ đưa lương thực, vượt một chặng đường dài từ Quỳnh Lưu sang Lào rồi tiếp tục hàng trăm cây số đường rừng lên Điện Biên. Số gạo, muối này phải được đảm bảo đưa ra chiến trường một cách nguyên vẹn. Đoàn dân công sẽ tự túc một phần lương thực hoặc được bà con nhân dân trên đường ra Điện Biên tiếp tế hàng ngày.

Một ngày mùa Đông năm 1953, đoàn dân công xã Quỳnh Hoa lên đường. Với chiếc đòn gánh trên vai, đôi quang gánh, họ bắt đầu “hành trình vạn dặm” của những người nông dân chân đất lên với Điện Biên – chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ.

Đoàn gánh bộ đến khu vực rừng núi giáp nước bạn Lào, địa hình núi rừng dốc cao đèo sâu buộc phải thay đổi cách thức vận chuyển. Những chiếc bồ đan bằng cật giang (lớp vỏ cứng ngoài cùng của thân cây giang – một loại cây cùng họ với tre) cao khoảng 50cm, miệng rộng 25cm ra đời. Với chiếc dây ngắn buộc trên miệng, chiếc bồ trở thành dụng cụ để vận chuyển gạo. Còn muối được đựng trong những chiếc bi-đông bằng ống tre già.

Chiếc “gióng” mới, ngắn, cơ động nên việc vận chuyển trong địa hình rừng núi thuận tiện, gọn gàng hơn. Đến những đoạn suối sâu, dốc cao, gạo từ bồ được trút ra cái gùi sau lưng để vận chuyển, đảm bảo để gạo, muối không bị rơi vãi, không bị ngấm nước, ẩm mốc. Chiếc đòn gánh trở thành gậy chống, giúp họ vượt qua đoạn đường gian khổ và không kém phần hiểm nguy với 30 cân gạo và 5 cân muối trên vai.

Cứ như thế, “đôi chân vạn dặm” của những người nông dân xứ Nghệ sau nhiều tháng trời vượt rừng cao, vực sâu, thác hiểm đã đưa những hạt gạo nghĩa tình, những hạt muối mặn mòi của người dân xứ Quỳnh lên Điện Biên, góp phần cùng bộ đội “ăn no, đánh thắng”. Hoàn thành nhiệm vụ tải lương, ông Nguyễn Đình ở lại Điện Biên phục vụ kháng chiến cho đến ngày chiến dịch toàn thắng.

Trong niềm vui của người dân một nước tự do, độc lập, ông cùng đoàn người xuôi về đồng bằng, kết thúc 6 tháng phục vụ chiến dịch, không quên mang theo chiếc bồ theo ông đi tải gạo. Năm 1966, ông Nguyễn Đình qua đời, vẫn đau đáu lời dặn dò “nợ nước phải trả”.

Tiếp bước cha, ông Nguyễn Cơ Sở tham gia Đoàn 559, trở thành người lính vận chuyển lương thực, khí tài ra chiến trường đánh Mỹ cứu nước. Đất nước thống nhất, chưa kịp nghỉ ngơi, ông lại được điều động chở pháo ra tăng cường cho mặt trận biên giới phía Bắc. Chỉ khác rằng, ông không còn đi bộ như cha ông mình mấy mươi năm về trước mà được đào tạo bài bản thành người lính lái xe.

Theo di nguyện của bố, chiếc bồ năm xưa cụ Nguyễn Đình tải gạo lên Điện Biên vẫn được gia đình ông Sở gìn giữ cho đến hôm nay. Nay ông quyết định giao nó lại cho Bảo tàng Quân khu 4, bởi “giữ lại chỉ mỗi gia đình, dòng họ tôi biết. Trao lại cho bảo tàng thì cả tỉnh, cả nước biết đến một thời gian khổ, hào hùng của dân tộc. Chiếc bồ sẽ được bảo quản tốt hơn, được trưng bày, giới thiệu cho các thế hệ sau, cha tôi nơi chín suối chắc sẽ an lòng”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn