CÂU CHUYỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Giữ những ngày trưa nắng cháy bỏng của xứ Nghệ, bên dòng Lam giang xanh thẳm, cậu bé Nguyễn Sinh Cung- sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã mở mắt nhìn thế giới bằng một cái nhìn vừa trong trẻo, vừa đau đáu trước nỗi cơ hàn của quê hương, Từ những ngày còn thơ bé, Người đã đứng dưới bóng cây đa làng Sen, nghe cha mình – cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Trắc – giảng về nhân nghĩa, về tấm lòng với dân với nước. Chính từ thuở ấy, Người đã lặng lẽ nuôi một chí lớn cứu dân khỏi lầm than.
Những buổi chiều gió Lào bỏng rát, khi nhìn những người dân đôi chân nứt nẻ vẫn lam lũ trên đồng, Người từng hỏi cha:
Vì sao dân mình khổ đến thế?
Câu hỏi ấy như một nhát dao khắc sâu vào tâm trí Người, mở đầu cho một hành trình đi tìm con đường giải phóng dân tộc kéo dài hơn 30 năm bôn ba nơi đất khách.
Cuộc hành trình đầy gian nan ấy bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến nhà Rồng, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi trên con tàu Amiral Latouche – Trresville. Không phải ra đi để tìm vàng, tìm giàu sang, mà đi để tìm lời giải cho câu nói của cả dân tộc mãi không được lí giải:
Nước ta làm thế nào để được độc lập?
Suốt nhiều năm lênh đênh trên biển, làm phụ bếp, dọn tuyết, rửa ảnh,…Người tiếp xúc với tận cùng nỗi khổ của những thân phận lao động và cả sự tàn nhẫn của chủ nghĩa thực dân. Chính trải nghiệm ấy giúp Người nhận ra chân lý chỉ có cách mạng vô sản mới cứu được nước, giải phóng con người.
Vào năm 1920, tại Đại hội Tour (Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã dõng dạc đứng lên tuyên bố:
Đây là con đường giải phóng chúng ta!” khi Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Tiếp tục con đường đó năm 1930, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tầm nhìn của một nhà chiến lược kiệt xuất.
Sau cuộc hành trình dài đó vào tháng 1 năm 1941, Người trở về Tổ quốc, sống trong hang Pác Bó – một căn hang nhỏ ẩm lạnh, Người ngồi bên bàn đá” chông chênh dịch sử Đảng”, bên cạnh bếp lửa nghi ngút khói, tấm áo sờn vai vẫn lặng lẽ phủ lên dáng người gầy gò nhưng ánh mắt thì sáng rực như lửa. Cuộc sống giản dị, nhưng niềm tin vào thắng lợi của dân tộc thì lớn lao phi thường.
Rồi thời khắc lịch sử ấy cũng đã xảy ra ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.
Giọng Người trầm ấm, vang lên giữa bầu trời thu xanh thẳm:
Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Rồi Người khẳng định với giọng kiên quyết, sắc lạnh như thép:
Nước Việt Nam có quyền được tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự dọ độc lập.
Khoảnh khắc ấy, cả dân tộc như vỡ òa. Đó không chỉ là một tuyên bố chính trị, mà là lời thề thiêng liêng trước lịch sử.
Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ, Hồ Chí Minh luôn sát cánh cùng nhân dân. Người đến từng bản làng, từng căn hầm nhỏ, chia sẻ từng củ khoai, bát cháo với dân. Dưới ánh đền dầu leo lét, Người viết thư động viên bộ đội, thanh niên xung phong, thiếu niên nhi đồng. Trong những năm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tiếng nói của Người trở thành sức mạnh vô hình thôi thúc toàn dân tộc tiến lên. Tuyên ngôn bất hủ của Người trở thành khẩu hiệu chiến đấu:
Không có gì quý hơn độc lập, tự do.
Từ câu nói ấy, những đoàn quân đã vượt Trường Sơn, những cô gái Ngã ba Đồng Lộc đã nằm lại bên hố bom, những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường 559 đã lao đi trong tiếng đạn bom, để giữ trọn lời thề với Bác, với Tổ quốc.
Dù là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn sống như một người bình thường. Chiếc áo ka-ki bạc màu, đôi dép cao su giản dị, chiếc nhà sàn nhỏ bên bờ ao… tất cả làm nên chân dung một vị lãnh tụ mà thế giới phải khâm phục.
Một điều mà chẳng người dân nào mong muốn nó sẽ đến ngày 2 tháng 9 năm 1969, Người đã ra đi, để lại trong lòng dân tộc Việt Nam nỗi tiếc thương khôn cùng. Nhưng di sản của Người để lại – tư tưởng, đạo đức, phong cách – “vẫn là ngọn đuốc dẫn đường” cho dân tộc.
Người căn dặn:
Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của Đảng và dân tộc ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Hồ Chí Minh – Người không chỉ là lãnh tụ của một dân tộc, mà là biểu tượng của khát vọng tự do của cả nhân loại. Cuộc đời Người như một bản hùng ca cháy đỏ trong thời hoa lửa, trong đó mỗi chương đều được viết bằng mồ hôi, nước mắt và trái tim dành trọn cho đất nước. Người để lại cho dân tộc không chỉ Tổ quốc độc lập, mà còn để lại tấm gương về sự khiêm nhường, nhân ái, vị tha, một lòng vì dân vì nước.
Để rồi hôm nay, mỗi khi nhìn lên bầu trời đêm, ta như vẫn thấy một vì sao sáng – vì sao mang tên Hồ Chí Minh – soi rọi con đường Việt Nam đi tới tương lai.


