CÂU CHUYỆN VỀ “CỐI XAY THỊT” QUẢNG TRỊ NĂM 1972
CTên bài viết: CÂU CHUYỆN VỀ “CỐI XAY THỊT” QUẢNG TRỊ NĂM 1972
Nội dung
Mùa hè năm 1972, chiến trường Quảng Trị trở thành một trong những nơi khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sau khi giải phóng Quảng Trị vào tháng 5, lực lượng ta phải đối mặt với cuộc phản công quy mô lớn của quân đội Sài Gòn có sự yểm trợ hỏa lực mạnh mẽ từ Mỹ. Tâm điểm của cuộc chiến là Thành cổ Quảng Trị – một khu thành nhỏ nhưng mang ý nghĩa chiến lược và biểu tượng to lớn. Nếu nắm giữ được vị trí địa chiến lược cốt lõi này, chúng sẽ có cớ “mặc cả” với ta tại hòa đàm Paris sắp diễn ra. Vì vậy, phía quân đội Sài Gòn đã biến nơi này thành mồ chôn tập thể cho ta lẫn chúng, mở ra trận chiến quy mô lớn kinh động đất trời.
Cuộc chiến tại đây kéo dài suốt 81 ngày đêm, từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 9 năm 1972. Trong khoảng thời gian ấy, Thành cổ gần như bị san phẳng bởi hàng chục nghìn tấn bom đạn. Trung bình mỗi ngày, nơi đây phải hứng chịu hàng trăm lượt pháo kích và không kích. Đất đá bị cày xới liên tục, cây cối không còn, mọi công sự đều bị phá hủy rồi lại được dựng lên trong đêm. Đáng sợ hơn, những mảng mồ chôn tạm bợ được đắp vội vã cũng bị đạn bơm giày xéo. Từng tất thành cổ đều có dấu vết bơm đạn đi qua. Với ba mặt đều là địch, tạo nên địa hình đặc biệt hiểm trở, nguy hiểm và khốc liệt. Có thể nói, thành cổ là trận địa đã là hao mòn cả tâm trí, công sức và tinh thần của nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ.
Cách mặt trận thành cổ khoảng hơn chục cây số, từng tốp thanh niên từ bỏ giảng đường, từ bỏ ước mơ để cùng tiến lên với mong muốn vẽ lên tự do cho dân tộc. Ở trường Đại học Bách khoa năm ấy đã gióng lên khẩu hiệu: “Ra đi mang nặng lời thề/ Không thắng giặc Mỹ không về Bách khoa.” Những chàng trai thư sinh tuổi còn đôi mươi khoác lên mình bộ quân phục và con tim yêu nước cứ thế ra đi. Đằng sau là những hoài bão gác lại sau đầu. Có lẽ, trong thâm tâm từng con người đều hiểu rằng, độc lập của dân tộc thiêng liêng hơn bất kì ước mơ nào. Đó không chỉ là ước mơ của riêng họ, mà còn là ước mơ của nhiều thế hệ đã anh dũng đứng lên và kiên cường ngã xuống.
Để tiếp viện cho mặt trận, các đơn vị bộ đội phải vượt qua sông Thạch Hãn – con sông trở thành ranh giới sống còn. Ban ngày, máy bay và pháo binh đối phương kiểm soát gắt gao, nên việc vượt sông chủ yếu diễn ra vào ban đêm. Nhiều chiến sĩ đã ngã xuống ngay trên dòng nước khi chưa kịp đặt chân tới bờ bên kia. Dòng Thạch Hãn vì thế được ví như “dòng sông máu”, nơi ghi dấu sự hi sinh thầm lặng của biết bao người lính trẻ.
Trong lòng Thành cổ, các chiến sĩ bám trụ từng mét đất. Họ chiến đấu trong điều kiện vô cùng thiếu thốn: lương thực cạn dần, nước uống khan hiếm, thương binh không thể chuyển ra ngoài kịp thời. Nhưng điều khiến họ đứng vững không chỉ là nhiệm vụ quân sự, mà còn là ý chí giữ vững lá cờ, giữ vững từng tấc đất đã giành được.
Cuộc chiến không chỉ là cuộc đấu về vũ khí mà còn là cuộc đấu về ý chí. Dù phải đối mặt với hỏa lực áp đảo, các lực lượng vẫn kiên cường trụ vững suốt 81 ngày đêm, làm tiêu hao lớn sinh lực đối phương và giữ vững vị thế chiến lược. Đến tháng 9 năm 1972, trước tình hình mới, lực lượng ta rút khỏi Thành cổ, nhưng trận chiến đã trở thành biểu tượng bất khuất của lòng dũng cảm và sự hi sinh. Cách đó nửa vòng Trái đất, hiệp định Paris được kí kết thành công đã khiến các thế lực thù địch phải công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập, kiên cường. Có lẽ, chưa từng có tiền lệ nào, một quốc gia nào có thể đánh bại được thế lực quân sự mạnh mẽ của Đế quốc Mỹ. Điều đó vừa khẳng định sức mạnh bền bỉ trong lòng một dân tộc yêu nước, vừa thể hiện những khó khăn, mất mát mà thế lực ngoại bang đã gieo rắc cho nhân dân ta.
Ngày nay, Thành cổ Quảng Trị là một di tích lịch sử thiêng liêng. Dưới lớp đất yên bình là ký ức của một thời máu lửa, nơi tuổi xuân của hàng ngàn người lính đã hóa thành bất tử. Trận chiến 81 ngày đêm không chỉ là một sự kiện quân sự, mà còn là câu chuyện về lòng yêu nước, về ý chí không khuất phục của dân tộc Việt Nam.



