câu chuyện về cựu chiến binh Giáp Văn Mạo
Chiều mùa thu tháng Tám, nắng đã nhạt. Theo địa chỉ mà Hội Cựu chiến binh tỉnh Bắc Ninh cung cấp, tôi tìm đến nhà riêng của cựu chiến binh, thương binh hạng 1/4 Giáp Văn Mạo, nguyên là chiến sĩ biệt động nội thành Huế, hiện trú tại khu 34, phường Đa Mai, tỉnh Bắc Ninh.

Chiều mùa thu tháng Tám, nắng đã nhạt. Theo địa chỉ mà Hội Cựu chiến binh tỉnh Bắc Ninh cung cấp, tôi tìm đến nhà riêng của cựu chiến binh, thương binh hạng 1/4 Giáp Văn Mạo, nguyên là chiến sĩ biệt động nội thành Huế, hiện trú tại khu 34, phường Đa Mai, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi nhà ông Mạo đang ở gần mặt đường nên không khó để tôi hỏi thăm. Trong căn phòng khách nhỏ vừa đủ kê bộ bàn ghế gỗ kiểu sofa, nhưng luôn đông khách. Đó là các bạn cựu chiến binh, hàng xóm đến chơi, cùng vui đánh cờ tướng và trò chuyện. Ông Mạo ngồi ung dung trên ghế, dáng người đậm, đôi chân không còn, chăm chú suy nghĩ đi nước cờ hay nhất. Khung cảnh thật yên bình. Dường như không ai nghĩ, ông đã đi qua một thời khói lửa hào hùng và quá khứ mất mát, đau thương. Ngược về gần 60 năm trước, năm 1967, thầy giáo Giáp Văn Mạo, sinh năm 1946, quê ở xã Vinh Quang, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Tân Yên, tỉnh Bắc Ninh) vừa tốt nghiệp hệ 7+3 Trường Trung cấp Sư phạm Hà Bắc, nhận lệnh lên đường nhập ngũ. Ngày ấy, với tinh thần “vì miền Nam ruột thịt”, Tỉnh ủy Hà Bắc chỉ đạo Ty Giáo dục Hà Bắc thành lập một đại đội nhà giáo mang phiên hiệu Đại đội Ngô Gia Tự để bổ sung cho Quân đội. Từ những lá đơn tình nguyện và xung phong, Ty Giáo dục Hà Bắc đã lựa chọn được 155 giáo viên, giáo sinh đang học tại các trường sư phạm và cán bộ quản lý giáo dục toàn tỉnh vào Đại đội Ngô Gia Tự. Ngày 20-7-1967, nhân kỷ niệm 13 năm ký Hiệp định Geneva (năm 1954), Tỉnh ủy và Ty Giáo dục tổ chức công bố thành lập Đại đội Ngô Gia Tự và tặng cờ cho đại đội. - Ngày lên đường, trong lòng tôi náo nức khó tả. Nhưng nhìn các anh cán bộ, giáo viên lớn tuổi hơn, có vợ con đưa tiễn, nước mắt bịn rịn, tôi lại lặng lẽ, chưa biết động viên các anh thế nào. Lời hứa và quyết tâm của Đại đội Ngô Gia Tự vang lên, khiến các nhà giáo dứt những vương vấn, gác bút nghiên lên đường nhập ngũ-cựu chiến binh Giáp Văn Mạo nhớ lại.
Đội hình Đại đội Ngô Gia Tự hành quân về Lục Nam, bàn giao cho Đại đội 5, Tiểu đoàn 405, Trung đoàn 568, Sư đoàn 330 (Quân khu Tả Ngạn) để huấn luyện. Sau 4 tháng huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu bộ binh và hành quân rèn luyện dã ngoại đường dài, leo núi cao, cán bộ, chiến sĩ Đại đội Ngô Gia Tự đều nỗ lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cuối năm 1967, toàn Đại đội hành quân vào miền Nam chiến đấu.
Cựu chiến binh Giáp Văn Mạo kể: “Chúng tôi hành quân qua Quảng Bình, vượt Trường Sơn sang phía Tây thuộc đất bạn Lào, rồi đi theo hướng sông Bồ vào tập kết ở khu vực giáp ranh Quảng Trị-Huế. Quá trình hành quân, đội hình đơn vị bí mật, phòng tránh máy bay ném bom và thám báo của địch phát hiện. Đến nơi tập kết, Đại đội Ngô Gia Tự phân tán lực lượng, bổ sung cho các đơn vị. Tôi về Tiểu đoàn 1, Khu Trị-Thiên-Huế. Tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đơn vị tôi đánh địch ở Động Toàn, Đông Ba. Đó cũng là những trận chiến đấu đầu tiên của tôi. Từ tháng 9-1968, đơn vị tôi hoạt động ở Thừa Thiên, vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở. Năm 1970, tôi được điều động về Thành đội Huế, hoạt động biệt động ở nội thành Huế. Bằng sự nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, năm 1970 tôi vinh dự được kết nạp Đảng. Để hoạt động trong nội thành, tôi được cử tham gia các lớp huấn luyện về đặc công biệt động, phương pháp nắm địch, xây dựng cơ sở cách mạng... Tôi được Thành đội Huế giao thực hiện nhiều nhiệm vụ đặc biệt, trong đó có nhiệm vụ lên rừng đón các đoàn cán bộ vào nội thành công tác. Tôi liên hệ cơ sở cách mạng bố trí nơi ăn ở, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các đoàn cán bộ vào nội thành hoạt động. Đầu tháng 2-1971, tôi nhận nhiệm vụ đi đón đoàn cán bộ từ căn cứ ở rừng Thừa Thiên. Tuyến đường bí mật đã được xác định. Đi đón đoàn cán bộ cấp trên về nội thành Huế có 2 người gồm tôi và một đồng chí y tá. Đi gần đến cửa rừng, tôi phát hiện có dấu hiệu bị lộ nên cùng đồng chí y tá chuyển hướng đi theo tuyến đường dự phòng. Đến chỗ rẽ, chúng tôi bị địch phục kích. Chúng gài mìn Claymore chỗ chúng tôi sẽ đi qua. Đồng chí y tá đi cách tôi 10 mét, trúng mìn hy sinh. Còn tôi bị mìn nổ cắt cụt ống chân bên trái, mất máu nhiều nên ngất đi. Chúng cáng tôi lên trực thăng, đưa về Nha cảnh sát Huế.
Khi tôi tỉnh lại, địch giải tôi đến Trung tâm chiến tranh tâm lý ở bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng). Địch giữ tôi ở đây 3 tháng để thẩm vấn, khai thác thông tin. Do được huấn luyện nghiệp vụ biệt động, xử lý tình huống khi bị địch bắt, tôi chỉ khai những nội dung đã thống nhất. Tôi nhận mình là chiến sĩ hậu cần Quân Giải phóng, đi vào nhà dân liên hệ để mua lương thực. Mua được lương thực rồi thì tập trung tại một vị trí quy ước, có người đến lấy, còn đưa lương thực đi đâu, tôi không biết. Thấy tôi một mực như vậy, địch tiếp tục cắt chân thứ hai của tôi. Nhưng chúng cũng không khai thác được gì, địch chuyển tôi về Trung tâm cải huấn Sài Gòn. Trong trại giam, địch tiếp tục tra tấn tôi dã man. Thấy tôi bị cụt hai chân, đồng chí Thư, quê ở Lạng Giang, nhận đồng hương, phản đối việc địch dùng đòn tra tấn với tù binh là thương binh. Điều đó khiến địch không tra tấn tôi mà đánh đập đồng chí Thư, “mày khỏe, bảo vệ nó thì mày nhận đòn thay”, bọn lính địch bảo vậy. Ba tháng sau, địch đưa tôi từ Sài Gòn trả về Huế. Ở Nhà lao Thừa Phủ hai tháng, địch chuyển tôi ra Nhà tù Phú Quốc. Thấy hồ sơ của tôi là thành phần ngoan cố và trong Nhà tù Phú Quốc, tôi tham gia với chi bộ nhà tù dạy học cho anh em, rồi kể chuyện lịch sử, bọn cai ngục phạt tôi, úp thùng phuy phơi nắng. Tôi bị mất hai chân, bọn địch bắt tôi phải di chuyển theo cách “trồng cây chuối”, rồi chúng cười khả ố với nhau. Nhưng chúng không lay chuyển được tinh thần, ý chí của các đảng viên cộng sản chúng tôi. Trong tù, chúng tôi vẫn sinh hoạt bí mật, động viên nhau đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù.



