câu chuyện về Hai Bà Trưng
thể hiện tinh thần bất khuất của nhân dân Việt Nam
Vào thế kỷ I sau Công nguyên, nước ta bị nhà Đông Hán đô hộ và đặt tên là quận Giao Chỉ. Thái thú Tô Định là một kẻ vô cùng tàn bạo, độc ác, ra sức vơ vét của cải và áp bức nhân dân ta dã nại.
Lúc bấy giờ ở huyện Mê Linh có hai chị em ruột là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Cả hai đều là những người tài cao, võ nghệ kiêm toàn và giàu lòng yêu nước. Trưng Trắc kết duyên cùng Thi Sách, con trai lạc tướng huyện Chu Diên, một người cũng mang chí lớn đánh đuổi quân xâm lược.
Căm ghét sự phản kháng của các thủ lĩnh người Việt, Tô Định đã lập mưu giết chết Thi Sách hòng đè bẹp ý chí của nhân dân. Tuy nhiên, nợ nước thù nhà càng khiến lòng căm thù của Hai Bà Trưng sục sôi.
Năm 40 sau Công nguyên, Hai Bà Trưng chính thức phất cờ khởi nghĩa tại cửa sông Hát. Lời thề xuất quân vang vọng non sông:
"Một xin rửa sạch nước thù,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này."
Cuộc khởi nghĩa nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của các lạc tướng, hào kiệt và nhân dân khắp nơi. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Hai Bà Trưng, nghĩa quân tiến công như vũ bão, nhanh chóng hạ thành Luy Lâu. Thái thú Tô Định hoảng sợ, phải cắt tóc, cạo râu, cải trang lẻn trốn về nước.
Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân đã thu hồi được 65 thành trì vùng Lĩnh Nam. Nền độc lập được khôi phục, Trưng Trắc được suy tôn làm vua, lấy hiệu là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh.
Đến năm 42, vua Hán sai danh tướng Mã Viện đem hàng vạn quân tinh nhuệ sang tái xâm lược. Dù chiến đấu cực kỳ dũng cảm để bảo vệ đất nước, nhưng do chênh lệch lực lượng quá lớn và quân địch hung hãn, nghĩa quân của Hai Bà Trưng dần rơi vào thế yếu.
Để giữ vẹn khí tiết, không rơi vào tay quân thù, Hai Bà Trưng đã gieo mình xuống dòng sông Hát tuẫn tiết. Dù cuộc khởi nghĩa sau đó bị dập tắt, hình ảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận vẫn mãi là biểu tượng bất diệt cho tinh thần bất khuất, anh hùng của phụ nữ Việt Nam và ý chí độc lập tự chủ của dân tộc.



