Câu chuyện về Hoàng đế bách chiến bách thắng Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753 – 1792)
Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753 – 1792): Người anh hùng áo vải cờ đào, lãnh đạo phong trào Tây Sơn và đại phá quân Thanh mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789)
Nguyễn Huệ sinh ra tại vùng đất Tây Sơn, phủ Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Bản thân tổ tiên ông vốn họ Hồ ở Nghệ An, sau bị bắt vào Nam mới đổi sang họ Nguyễn. Từ thủa nhỏ, ông cùng hai người anh em của mình là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ đã được học tập cả văn lẫn võ dưới sự chỉ dạy của thầy giáo Hiến. Nguyễn Huệ sớm bộc lộ vóc dáng khỏe mạnh, đôi mắt sáng rực như tia chớp, giọng nói vang như chuông và đặc biệt là tư chất mưu lược, giỏi võ nghệ. Năm 1771, trước cảnh áp bức tàn bạo của quyền thần Trương Phúc Loan ở Đàng Trong khiến nhân dân lầm than, ba anh em Tây Sơn đã phất cờ khởi nghĩa với khẩu hiệu lòng dân: "Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo". Với tài năng quân sự thiên bẩm, Nguyễn Huệ nhanh chóng trở thành linh hồn, vị chủ tướng kiệt xuất nhất của phong trào Tây Sơn.
Chiến công lừng lẫy đầu tiên khẳng định thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ là trận Rạch Gầm - Xoài Mút vào đầu năm 1785. Khi chúa Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm sang xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ đã thần tốc đưa quân vào Nam. Nhận định địa hình vùng sông nước Mỹ Tho, ông khôn khéo bố trí trận địa mai phục đại tài. Chỉ trong vòng một ngày, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh tan tành 5 vạn quân Xiêm, bẻ gãy hoàn toàn dã tâm xâm lược của kẻ thù phương Nam. Ngay sau đó, năm 1786, ông lại dẫn quân ra Bắc, đánh sập tập đoàn phong kiến chúa Trịnh chèo kéo hàng trăm năm, mở đường cho sự nghiệp thống nhất giang sơn đất nước dở dang.
Đỉnh cao chói lọi nhất trong cuộc đời Nguyễn Huệ diễn ra vào cuối năm 1788. Lợi dụng sự suy yếu của nước ta, vua Lê Chiêu Thống đã hèn hạ "rước voi về giày mả tổ", cầu viện triều đình nhà Thanh đem 29 vạn quân sang đánh chiếm kinh thành Thăng Long. Đứng trước hiểm họa mất nước, ngày 22 tháng 12 năm 1788 (tức ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân), Nguyễn Huệ chính thức lên ngôi hoàng đế tại núi Bân (Huế), lấy niên hiệu là Quang Trung rồi ngay lập tức hạ lệnh xuất quân ra Bắc. Lời hịch đanh thép của ông trước quân sĩ tại Nghệ An đã trở thành bản tuyên ngôn bất hủ: "Đánh cho để tóc dài / Đánh cho để răng đen / Đánh cho nó chích luân bất phản / Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn / Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ" (Đánh cho kẻ thù không còn một mảnh giáp, để lịch sử biết nước Nam anh hùng là có chủ).
Với chiến lược hành quân thần tốc vô tiền khoáng hậu, vừa đi vừa tuyển quân và tổ chức hành quân xuyên đêm, vua Quang Trung đã đưa đại quân ra đến cửa ngõ Thăng Long đúng vào dịp Tết Kỷ Dậu (1789). Trong khi quân Thanh đang mải mê ăn Tết, lơ là cảnh giác, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy trực tiếp của nhà vua đã phối hợp hiệp đồng vũ bão, liên tiếp công phá các đồn lũy kiên cố của giặc tại Hạ Hồi, Ngọc Hồi. Đỉnh cao là trận rạng sáng mùng 5 Tết, quân ta quét sạch đồn Khương Thượng, khiến tướng giặc Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ mất mật phải bỏ cả ấn tín, cắt tóc rạch mặt trốn chạy về nước. Trưa mùng 5 Tết Kỷ Dậu, áo bào hoàng gia của vua Quang Trung còn sạm đen khói súng, ông hiên ngang dẫn đầu đoàn quân chiến thắng tiến vào giải phóng kinh thành Thăng Long trong sự reo hò vang dội của muôn dân.
Sau đại thắng, bước vào thời bình, vua Quang Trung chứng tỏ mình không chỉ là một chiến tướng dũng mãnh mà còn là một nhà chính trị, nhà cải cách có tầm nhìn vĩ đại. Ông ban hành các chính sách tiến bộ như "Chiếu khuyến nông" để phục hồi kinh tế, "Chiếu lập học" đưa chữ Nôm trở thành văn bản chính thức của quốc gia, chấn chỉnh việc thi cử và thực hiện chính sách đối ngoại khôn khéo khiến nhà Thanh phải nể sợ, kính trọng. Giữa lúc đất nước đang tràn trề hy vọng canh tân, mùa thu năm 1792, hoàng đế Quang Trung đột ngột băng hà ở tuổi 39 đầy oanh liệt, để lại niềm tiếc thương vô hạn cùng bao dự định vĩ đại còn dang dở.
Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, hình ảnh vị hoàng đế áo vải cờ đào Quang Trung – Nguyễn Huệ vẫn luôn là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời bách chiến bách thắng, hành quân thần tốc và nhân cách vĩ đại của ông đã trở thành một huyền thoại bất tử, một bài học sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường và khát vọng độc lập, hùng cường trọn vẹn của dân tộc Việt Nam.



