CÂU CHUYỆN VỀ LIỆT SĨ NGUYỄN QUÂN “NGỌN LỬA KHÔNG TẮT”
CÂU CHUYỆN VỀ LIỆT SĨ NGUYỄN QUÂN
“NGỌN LỬA KHÔNG TẮT”
“Ba ơi… chú Quân là người như thế nào vậy ạ?”
Con bé ngồi bên tôi, đôi mắt trong veo nhưng đầy tò mò. Nó đã hỏi tôi câu này không biết bao nhiêu lần, nhưng lần nào cũng vậy - tim tôi lại chùng xuống, như có ai khẽ chạm vào một vết thương cũ.
Tôi nhìn ra ngoài hiên, nơi chiều đang buông chậm. Rồi tôi nói, chậm rãi:
“Chú Quân… là em kế của ba.”
Nó nghiêng đầu:
“Chú có giống ba không ạ?”
Tôi khẽ cười:
“Nó gầy hơn, nhưng gan lì hơn ba nhiều… và nó cười đẹp lắm.”
Tôi là Nguyễn Sỹ, anh trai của Quân.
Đã gần nửa đời người trôi qua kể từ ngày em tôi nằm lại nơi đất bạn Campuchia, nhưng mỗi lần nhắm mắt, tôi vẫn thấy Quân của ngày nào - gầy gò, ánh mắt sáng, miệng lúc nào cũng cười như chẳng biết sợ là gì.
Quân sinh năm 1959, là đứa em thứ trong nhà. Nó lớn lên trong những năm tháng đất nước vừa qua chiến tranh, cái nghèo cái khó bủa vây, nhưng trong lòng nó luôn có một thứ gì đó rất lớn - lớn hơn cả những bữa cơm độn sắn, lớn hơn những đêm mưa dột mái tranh. Nó gọi đó là “trách nhiệm của một người con đất Việt”.
Con bé im lặng, chăm chú nghe.
Tôi tiếp tục:
“Ngày chú khoác ba lô lên đường, bà nội con khóc. Ba đứng bên hiên, không nói được câu nào. Còn chú… chú quay lại cười, cái cười mà ba nhớ suốt đời:
“Anh ở nhà thay em chăm mẹ. Em đi rồi sẽ về.”
Nó khẽ hỏi:
“Rồi chú có về không ba?”
Tôi ngừng lại một chút. Gió lùa qua hiên, mang theo cái lạnh rất khẽ.
“Có… nhưng không phải như cách mình mong.”
Những lá thư Quân gửi về không nhiều. Mỗi lần nhận thư, cả nhà lại tụm lại nghe tôi đọc. Nét chữ của nó cứng cáp dần theo thời gian, không còn là thằng em vụng về ngày nào nữa. Nó kể về đồng đội, về những cánh rừng xa lạ, về những đêm hành quân mà trăng sáng như ở quê mình. Nhưng tuyệt nhiên, nó không bao giờ kể về hiểm nguy.
Cho đến một ngày…
Người ta mang về cho gia đình tôi một tờ giấy báo. Ngắn ngủi, lạnh lùng. Tôi đọc mà tay run, chữ như nhòe đi.
“Chú hy sinh hả ba?” - con bé thì thầm.
Tôi gật đầu.
“Quân hy sinh năm 1979, khi đang làm nhiệm vụ quốc tế cao cả bên đất Campuchia.”
Con bé nắm lấy tay tôi. Tôi cảm nhận được bàn tay nhỏ bé ấy run lên.
“Mẹ của ba… bà nội con… ngã quỵ. Còn ba… ba không khóc. Không phải vì không đau, mà vì nỗi đau quá lớn, đến mức không thể thành nước mắt.”
Tôi kể cho con bé nghe những gì đồng đội của Quân đã nói lại. Hôm ấy, đơn vị bị phục kích. Quân xung phong ở lại chặn địch để đồng đội rút lui. Nó chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.
Con bé im lặng rất lâu.
“Chú… có sợ không ba?”
Tôi nhìn nó, rồi lắc đầu:
“Ba nghĩ… có thể chú cũng sợ. Nhưng có những điều lớn hơn nỗi sợ.”
Sau khi hy sinh, chú được an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Lộc Tấn, Lộc Ninh, Sông bé.
Tôi nói với con bé:
“Sau đó, gia đình mình tìm đến và đón chú trở về quê nhà.”
Mắt nó sáng lên:
“Về đâu hả ba?”
Tôi khẽ đáp:
“Về Nghĩa trang liệt sĩ xã Tam Hải - nơi đất mẹ đón chú về trong vòng tay đoàn tụ ”
Tôi nhớ rất rõ ngày hôm đó. Tôi quỳ xuống trước phần mộ, đặt tay lên bia đá, mà nói không nên lời.
“Quân à… anh đưa em về rồi.”
Con bé siết chặt tay tôi hơn.
“Ba… chú có nghe thấy không?”
Tôi mỉm cười, lần này không còn quá buồn nữa:
“Ba tin là có.”
Gió ngoài hiên lại thổi qua. Tôi nhìn con bé, thấy trong mắt nó có một ánh sáng rất quen - giống ánh mắt của Quân ngày nào.
“Ba ơi…”
“Ừ?”
“Sau này con sẽ thường xuyên đi thăm chú với ba ạ.”
Tôi gật đầu.
Ngọn lửa mà em tôi mang theo ngày ra đi… đến giờ vẫn chưa từng tắt.
Và tôi biết, từ hôm nay - nó sẽ tiếp tục cháy trong con bé nữa.


