Câu chuyện về Lý Thường Kiệt
Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một trong những vị tướng lĩnh, nhà quân sự và chính trị gia kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam thời nhà Lý. Cuộc đời ông gắn liền với những chiến công hiển hách trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc trước vương triều nhà Tống, đồng thời ông cũng là tác giả của bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" – tác phẩm được xem là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước ta.
Thái úy Lý Thường Kiệt, tên thật là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, sau được ban quốc tính nên gọi là Lý Thường Kiệt, sinh ra trong một gia đình có truyền thống võ quan tại kinh thành Thăng Long. Từ thủa thiếu thời, ông đã bộc lộ dung mạo tuấn tú, tư chất thông minh, tính tình hào hiệp, không chỉ chăm chỉ đèn sách, tinh thông thao lược mà còn khổ luyện võ nghệ tinh thông. Biến cố cuộc đời ập đến khi cha mẹ sớm qua đời, nhưng với ý chí tự lập kiên cường, Ngô Tuấn cùng người em trai đã tự mình vươn lên, sớm khẳng định tài năng và được tuyển chọn vào cung làm quan khi tuổi đời còn rất trẻ. Trải qua nhiều thăng trầm nơi cung cấm, nhờ lòng tận tụy, sự chính trực và tài năng xuất chúng trên cả hai lĩnh vực văn lẫn võ, ông dần thăng tiến qua các triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và đạt đến đỉnh cao quyền lực dưới thời Lý Nhân Tông, trở thành vị đại thần cột trụ của vương triều.
Vào những năm 70 của thế kỷ XI, trong bối cảnh vương triều nhà Tống ở phương Bắc đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng và muốn dùng việc xâm lược Đại Việt để giải quyết mâu thuẫn nội bộ, Lý Thường Kiệt đã được giao trọng trách nắm giữ toàn bộ binh quyền để đối phó với hiểm họa. Nhận định kẻ thù đang ráo riết tích trữ lương thảo, khí giới tại các căn cứ sát biên giới như Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu, ông đã đưa ra một chiến lược quân sự táo bạo độc nhất vô nhị trong lịch sử: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc". Vào cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt cùng các tướng lĩnh chỉ huy hơn 10 vạn quân, chia làm hai đường thủy bộ bất ngờ tiến thẳng vào đất Tống. Cuộc hành quân thần tốc này không nhằm mục đích chiếm đất mà để triệt phá các căn cứ hậu cần, làm suy giảm ý chí chiến đấu của kẻ thù. Sau khi san phẳng các đồn lũy quân sự của nhà Tống và hạ thành Ung Châu thành công, Lý Thường Kiệt lập tức hạ lệnh rút toàn bộ quân về nước, chuẩn bị cho một cuộc chiến trường kỳ, chủ động thiết lập phòng tuyến vững chắc bên bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay).
Đúng như dự tính, năm 1077, nhà Tống huy động hàng chục vạn đại quân cùng hàng vạn phu dịch, dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ và Triệu Tiết ào ạt tràn sang xâm lược nước ta nhằm mục đích trả thù. Tại phòng tuyến sông Như Nguyệt, quân giặc nhiều lần điên cuồng mở đường máu, cố gắng bắc cầu phao vượt sông nhưng đều bị quân dân nhà Lý đánh bật trở lại, thây chất đầy bờ. Khi cuộc chiến đang vào giai đoạn giằng co căng thẳng, lòng quân có phần mỏi mệt, vào một đêm tối trời, Lý Thường Kiệt đã cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát bên dòng sông Như Nguyệt, giả làm tiếng thần nhân ngâm vang bài thơ "Nam quốc sơn hà". Những lời thơ đanh thép khẳng định chủ quyền độc lập thiêng liêng của bờ cõi nước Nam và cảnh cáo sự thất bại thảm hại của quân xâm lược đã như một liều thuốc tinh thần vô giá, thổi bùng lên ngọn lửa chiến đấu anh dũng của quân sĩ Đại Việt, đồng thời khiến quân Tống hoang mang, khiếp đảm sâu sắc. Chớp thời cơ khi quân địch suy kiệt cả về thể xác lẫn tinh thần, Lý Thường Kiệt chủ động mở cuộc đại phản công chiến lược, đập tan các cánh quân chủ lực của kẻ thù. Khi giành thắng lợi áp đảo, bằng nhãn quan chính trị thiên tài và lòng nhân đạo sâu sắc, ông không tận diệt kẻ thù mà chủ động mở đường hiếu hòa, cho phép Quách Quỳ rút quân về nước, giữ vững hòa bình, danh dự cho cả hai quốc gia và tránh cảnh lầm than cho trăm họ.
Sau đại thắng Như Nguyệt, đất nước ca khúc khải hoàn, Lý Thường Kiệt tiếp tục cống hiến những năm tháng cuối đời cho sự nghiệp xây dựng quê hương, củng cố biên giới vững chắc từ miền xuôi đến miền ngược. Cho đến khi viên tịch vào năm 1105 ở tuổi 86, ông đã dành trọn một đời phụng sự cho ba triều đại nhà Lý, lưu danh vào sử sách như một biểu tượng bất tử của tài năng quân sự xuất chúng, lòng trung quân ái quốc vẹn tròn và là vị anh hùng dân tộc vĩ đại, người đã bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, thổi bùng niềm tự hào tự tôn dân tộc suốt nghìn năm văn hiến.



