Câu chuyện về Mẹ Nguyễn Thị Thứ
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ (1904-2010), quê Quảng Nam, là biểu tượng cao cả nhất về sự hy sinh trong chiến tranh Việt Nam. Mẹ đã tiễn 12 người con, cháu ra trận (9 con trai, 1 con rể, 2 cháu ngoại) và tất cả đều hy sinh. Nỗi đau mất con không quật ngã được mẹ, trái lại, mẹ biến đau thương thành hành động, trực tiếp nuôi giấu cán bộ, bộ đội trong hầm bí mật tại vườn nhà suốt hai cuộc kháng chiến.
Câu chuyện về Mẹ Nguyễn Thị Thứ:
Người mẹ có nhiều con hy sinh nhất: Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kéo dài hơn 30 năm, mẹ Thứ nhận 9 giấy báo tử của các con trai, cùng con rể và hai cháu ngoại hy sinh. Sự ra đi lần lượt của các con là nỗi đau thấu trời xanh, nhưng mẹ vẫn lặng lẽ tiễn đưa, dặn dò con: “Ráng giữ nước con ơi”.
"Pháo đài" hậu phương: Không chỉ cống hiến các con, vườn nhà mẹ tại xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn là nơi trú ẩn, nuôi giấu bộ đội, du kích. Mẹ và con gái cả đã đào 5 căn hầm bí mật ngay dưới vườn, nguỵ trang bằng các bụi tre, gốc mít để bảo vệ cán bộ hoạt động trong lòng địch.
Bức ảnh kinh điển: Hình ảnh mẹ Thứ bên mâm cơm có 9 cái bát, 9 đôi đũa chờ các con về đã trở thành bức ảnh biểu tượng, gây xúc động mạnh mẽ về tình mẫu tử và nỗi đau chiến tranh.
Di sản bất tử: Mẹ qua đời năm 2010, thọ 106 tuổi. Hình tượng của mẹ được chọn làm nguyên mẫu cho Tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại Quảng Nam. Mẹ là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ là một câu chuyện lớn về tình mẫu tử và sự hy sinh thầm lặng của người mẹ Việt Nam trong chiến tranh.Chiến tranh đã lần lượt gọi tên các con mẹ ra trận.Mẹ tiễn con đi trong lặng lẽ, không nước mắt, chỉ dặn dò một câu giản dị: “Ráng giữ nước con ơi.” Rồi tin dữ cứ lần lượt trở về. Chín người con trai, một con rể và hai cháu ngoại của mẹ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Nỗi đau chồng chất nỗi đau, nhưng mẹ không gục ngã.
Sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, mẹ Nguyễn Thị Thứ sớm thấm thía thế nào là nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Mười tám tuổi, mẹ nên duyên với ông Lê Tự Trị, một người nông dân hiền hậu, chất phác. Mười hai lần vượt cạn là mười hai lần mẹ đón lấy niềm vui xen lẫn nỗi lo canh cánh vì cái nghèo đeo bám. Thế rồi, khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, ông Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà mình.” Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và không trở lại. Người con thứ ba, Lê Tự Xuyến, giao liên, hy sinh năm 1948. Chưa đầy mười ngày sau, người con thứ tư, Lê Tự Hàn, cũng ngã xuống khi đang tải thương. Cùng tháng đó, người con thứ năm, Lê Tự Hãn, hy sinh trên mặt trận Điện Bàn. Đầu tháng 4 năm 1954, đến lượt người con thứ sáu, Lê Tự Lem, ra đi khi mới vừa tròn hai mươi tuổi. Năm 1966, người con thứ bảy, Lê Tự Nự, bỏ mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con, Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh, cùng hy sinh. Và mẹ Thứ từng khấp khởi mong ngày người con trai cả, anh Lê Tự Truyện, trở về khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn tiến đến hồi kết. Nhưng khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Truyện, chiến sĩ tham gia tiến công vào nội đô, đã anh dũng hy sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.
Không chỉ các con, con rể của mẹ, ông Ngô Tường, cũng bị giặc Pháp tra tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại, Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều, lần lượt hy sinh trong mưa bom đạn những năm 1973 và 1974, khi tuổi đời còn rất trẻ. Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa sâu vào lòng mẹ. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa, lửa của lòng tin yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung chảy nỗi căm thù để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.
Không chỉ tiễn con, mẹ còn trực tiếp làm “pháo đài sống” giữa hậu phương. Vườn nhà được mẹ và con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào ba căn hầm sâu, nguỵ trang bởi bụi tre và gốc mít. Nơi đó, cán bộ Khu 5 họp bàn tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích. Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: “Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay, hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà”. Địch càn quét, mẹ khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm đến, bên ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế. Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Lời nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân.
Tết Mậu Thân 1968, pháo sáng rạch nát bầu trời Điện Bàn, mẹ đứng giữa ruộng ngập nước nhìn về núi Thành Mỹ nơi Lê Tự Nự đang gài mìn. Hè đỏ lửa 1972, khi nhận tin Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh hy sinh, mẹ lịm đi, tỉnh lại liền dặn con gái: “Lo hương khói cho anh, rồi tiếp tục nuôi quân”. Ngôi nhà lá biến thành đài Liệt sĩ thu nhỏ: chín bằng Tổ quốc ghi công kê kín vách, di ảnh con rể và hai cháu đặt chính giữa. Mẹ bảo người đến viếng: “Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng”. Năm 1998, phóng viên Hàn Quốc hỏi: “Vì sao bà tiếp tục động viên con ra trận khi đã mất bốn, năm người?”. Mẹ điềm đạm: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Còn giặc thì còn đi”. Câu trả lời khiến vị khách cúi đầu xin lỗi, bởi ông hiểu sự hy sinh phi thường mà chiến tranh áp đặt lên một người mẹ Việt Nam.
Quốc gia không bao giờ quên những người đã cho đi tất cả. Tháng 7 - 1994, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cho mẹ Thứ. Năm 2009, tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên núi Cấm, Tam Kỳ được khởi công, lấy nguyên mẫu gương mặt mẹ; khối đá hoa cương dài 120 m, cao 18,6 m, xác lập kỷ lục ASEAN. Con đường “Mẹ Thứ” ở thị trấn Vĩnh Điện ngày ngày rộn tiếng trẻ tới trường. Ngày 10 - 12 - 2010, mẹ về với đất ở tuổi 106. Lễ tang giản dị, nhưng dòng người từ bác xe ôm đến học sinh, chiến sĩ hải quân về phép chầm chậm tiễn đưa. Khói hương quyện gió, song tinh thần mẹ lan tỏa, len vào nụ cười hòa bình của từng người con xứ Quảng.
Ảnh: Tư liệu
Trong dòng chảy hào hùng của dân tộc, cán bộ, giảng viên, học viên, quân nhân tại Học viện Lục quân luôn soi mình vào tấm gương bất tử của mẹ Nguyễn Thị Thứ. Từ bục giảng đến thao trường, từ nghiên cứu khoa học đến rèn luyện thể lực, mỗi người đều thấm nhuần một điều thiêng liêng: sống, học tập, chiến đấu sao cho xứng đáng với máu xương mà mẹ và hàng triệu người mẹ Việt Nam đã hiến dâng. Quân nhân tại Học viện Lục quân hôm nay không chỉ là người cầm súng nơi tuyến đầu, mà còn là chiến sĩ trên mặt trận trí tuệ, làm chủ công nghệ quân sự hiện đại, vũ khí thông minh, trí tuệ nhân tạo. Nhưng trước hết, họ phải rèn cho mình phẩm chất trung thành, chính trực, kỷ luật và nhân ái, như chính mẹ từng sống, từng nuôi quân, từng giữ lửa cho kháng chiến. Học viện Lục quân lấy phương châm “đức - trí - dũng - nhân” làm kim chỉ nam, đào tạo những quân nhân không chỉ giỏi tác chiến mà còn có tâm hồn lớn. Trong mỗi buổi dã ngoại, giữa đêm thao luyện, giảng viên nhắc về mẹ Thứ như ngọn đuốc soi đường: “Một người mẹ nông dân đã nuôi cả sư đoàn, thì các anh càng phải biết nâng niu từng tấc đất quê hương”.
Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và nước mắt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ngọn lửa trong tim mẹ đã đốt cháy mọi sợ hãi, để lại nguồn sáng cửu cho nhân dân. Tri ân mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say, dấn thân khi Tổ quốc gọi tên. Cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Lục quân hôm nay hiểu rằng tiếp bước mẹ là nhiệm vụ thiêng liêng: ngày ngày rèn luyện bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, phát huy nghiên cứu khoa học quân sự, làm chủ công nghệ mới, kiên quyết giữ vững chủ quyền lãnh thổ. Mỗi dòng mã lập trình hệ thống tác chiến mô phỏng, mỗi đường bút trên bản đồ hành quân, mỗi giọt mồ hôi trên sân bắn đều là hạt giống hòa bình. Chiều xuống, đứng trước tượng đài mẹ trên núi Cấm, ta nghe gió biển Trường Sa thổi qua vầng đá hoa cương, như lời mẹ nhắn: “Các con ơi, non sông này đã liền một dải, hãy giữ lấy bình yên, đừng để máu phải rơi thêm lần nữa”. Đó là lời thề bất diệt, là mệnh lệnh mềm mại nhưng hùng hồn, dẫn dắt lớp trẻ dựng xây nước Việt hùng cường, để bầu trời độc lập nở mãi những đoá hoa do mẹ tưới bằng máu và tình yêu vô hạn.
Gặp gỡ nhân chứng lịch sử không chỉ là để biết về quá khứ, mà là để tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi: "Chúng ta là ai và chúng ta phải sống như thế nào cho xứng đáng?". Ngọn lửa từ quá khứ sẽ soi đường cho khát vọng của tương lai.
Các bạn đoàn viên, thanh niên ơi! Hãy cầm điện thoại lên, hãy mở sổ tay ra, hãy tìm đến những "nhân chứng hoa lửa" quanh mình. Câu chuyện của họ cần bạn kể lại. Lịch sử cần bạn gìn giữ. Và Tổ quốc cần bạn lan tỏa niềm tự hào ấy đến muôn đời sau



