CÂU CHUYỆN VỀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THỨ
Hòa bình hôm nay không phải là điều hiển nhiên, mà được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả tuổi xuân của biết bao thế hệ. Trong hàng triệu bà mẹ Việt Nam đã hy sinh cho dân tộc, mẹ Nguyễn Thị Thứ (1904 - 2010) từ thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam cũ (nay là phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng mới) hiện lên như một tượng đài bất tử: Mười hai liệt sĩ từ một mái nhà tranh cát trắng của mẹ, bao gồm chín người con trai, hai cháu ngoại và một con rể.
Mẹ sinh ra và lớn lên giữa miền Trung nắng gió, sớm thấm thía nỗi cơ cực của một đời lam lũ. Khi thực dân Pháp tái xâm lược, khói lửa chiến tranh kéo về từng làng quê, chồng mẹ là ông Lê Tự Trị và các con trai lần lượt gia nhập du kích. Trước hiên nhà lợp rơm, mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, mẹ chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà mình”. Từ đó, từng đứa con ra đi và không trở lại.
Người con thứ ba Lê Tự Xuyến hy sinh năm 1948, chưa đầy mười ngày sau, người con thứ tư Lê Tự Hàn cũng ngã xuống khi đang tải thương, cùng tháng đó người con thứ năm Lê Tự Hãn mất trên mặt trận Điện Bàn. Đầu tháng 4 năm 1954, đến lượt người con thứ sáu Lê Tự Lem, mới tròn hai mươi tuổi. Năm 1966, người con thứ bảy Lê Tự Nự bỏ mình ở mặt trận Khu 5. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, hai người con Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh cùng hy sinh. Cuối cùng, vào khoảng 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, con trai cả Lê Tự Truyện, chiến sĩ tham gia tiến công vào nội đô, đã anh dũng hy sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.
Không chỉ các con, con rể mẹ là ông Ngô Tường bị giặc Pháp tra tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều lần lượt hy sinh trong mưa bom đạn những năm 1973 và 1974, khi tuổi đời còn rất trẻ. Mỗi tờ giấy báo tử như một nhát dao cứa sâu vào lòng mẹ, nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa của lòng tin yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục.
Không chỉ tiễn con ra trận, mẹ còn trực tiếp làm “pháo đài sống” giữa hậu phương. Vườn nhà được mẹ và con gái cả Lê Thị Trị bí mật đào ba căn hầm sâu, nguỵ trang bởi bụi tre và gốc mít. Nơi đó, cán bộ quân khu Khu 5 họp bàn tác chiến, thương binh trú ngụ, vũ khí tạm cất giấu trước khi xuất kích. Cựu chiến binh Lê Tự Tân kể: “Tôi chui xuống hầm thấy nồi cơm đồng to như cái nia, khói thơm mùi lúa mới. Mẹ bưng gáo cơm chuyền từng tay, hơi ấm ấy xua tan mưa gió Phước Hà”. Địch càn quét, mẹ khoác nón lá, ẵm bó cỏ giả vờ chăn bò để xóa dấu cửa hầm. Đêm đến, bên ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khâu vá áo trận, gói cơm nắm, trộn muối rang tiếp tế cho các chiến sĩ.
Cuối năm 1948, ba khăn tang liên tiếp phủ tóc bạc, song mẹ vẫn viết thư cho đơn vị: “Con ơi, mẹ còn đất, còn lụa chôn nhau, đừng chùn bước”. Lời nhắn ấy đi suốt chiến trường, tiếp sức cho bao quân nhân. Tết Mậu Thân 1968, pháo sáng rạch nát bầu trời Điện Bàn, mẹ đứng giữa ruộng ngập nước nhìn về núi Thành Mỹ nơi Lê Tự Nự đang gài mìn. Khi nhận tin Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh hy sinh, mẹ lịm đi, tỉnh lại liền dặn con gái: “Lo hương khói cho anh, rồi tiếp tục nuôi quân”.
Ngôi nhà lá biến thành đài Liệt sĩ thu nhỏ: Chín bằng Tổ quốc ghi công kê kín vách, di ảnh con rể và hai cháu đặt chính giữa. Mẹ bảo người đến viếng: “Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng. Năm 1998, phóng viên Hàn Quốc hỏi: “Vì sao bà tiếp tục động viên con ra trận khi đã mất bốn, năm người?” Mẹ điềm đạm: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Còn giặc thì còn đi”.
Cuộc đời mẹ Nguyễn Thị Thứ là thiên anh hùng ca khắc bằng máu và nước mắt, soi rọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Ngọn lửa trong tim mẹ đã đốt cháy mọi sợ hãi, để lại nguồn sáng vĩnh cửu cho nhân dân. Tri ân mẹ không thể dừng ở cảm xúc nhất thời, mà phải biến thành hành động cụ thể: học tập suốt đời, lao động hăng say, dấn thân khi Tổ quốc gọi tên. Mẹ sẽ mãi là ngọn lửa thiêng liêng thắp sáng lòng yêu nước, là tấm gương cao đẹp để thế hệ trẻ noi theo trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hôm nay và mai sau.



