Câu chuyện về một Cựu Thanh niên xung phong
Hoàng Văn Đệ, sinh năm 1948 tại một vùng quê Hàm Yên, của tỉnh Tuyên Quang. Khi vừa tròn hai mươi tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã tình nguyện viết đơn gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong...
Tôi là Hoàng Văn Đệ, sinh năm 1948 tại một vùng quê Hàm Yên, của tỉnh Tuyên Quang. Năm 1968, khi vừa tròn hai mươi tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tôi tình nguyện viết đơn gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong.
Đơn vị chúng tôi được phân công làm nhiệm vụ trên các tuyến giao thông của tỉnh Tuyên Quang, bảo đảm cho xe vận tải chở lương thực, vũ khí và vật tư quân sự từ hậu phương tiếp tục hành trình vào các chiến trường miền Nam. Công việc của chúng tôi là mở đường, sửa đường, bắc cầu tạm, vận chuyển vật liệu và khắc phục những điểm bị hư hỏng sau mưa lũ.
Thời ấy, điều kiện vô cùng gian khổ. Ban ngày làm việc dưới cái nắng gắt hoặc những cơn mưa rừng kéo dài. Ban đêm, chúng tôi tranh thủ san gạt mặt đường để sáng hôm sau đoàn xe có thể tiếp tục lăn bánh. Có những hôm làm việc liên tục mười lăm, mười sáu tiếng đồng hồ, bàn tay ai cũng đầy vết chai, vai áo sờn vì gánh đá, gánh đất.
Kỷ niệm khiến tôi nhớ nhất là một trận mưa lớn cuối năm 1972. Nước lũ từ đầu nguồn đổ về làm sập một cầu tạm trên tuyến đường vận tải. Hàng chục xe chở hàng phải dừng lại. Nếu chậm trễ, việc chi viện cho tiền tuyến sẽ bị ảnh hưởng.
Ngay trong đêm, đơn vị chúng tôi nhận lệnh khẩn cấp. Không quản mưa rét, tất cả anh em cùng nhau chặt tre, kéo gỗ, khiêng từng tấm ván để dựng cầu tạm. Ánh đèn pin le lói, tiếng búa gõ hòa cùng tiếng suối chảy xiết. Có đồng chí bị đá lăn làm xây xát khắp người nhưng chỉ băng tạm rồi tiếp tục làm việc.
Đến khi trời vừa hửng sáng, cây cầu tạm cũng hoàn thành. Chiếc xe đầu tiên chậm rãi lăn bánh qua cầu trong tiếng reo vui của cả đơn vị. Chúng tôi nhìn theo đoàn xe khuất dần sau những cánh rừng và ai cũng hiểu rằng phía trước là tiền tuyến đang chờ những chuyến hàng ấy.
Điều quý giá nhất tôi có được sau những năm tháng ấy là tình đồng đội. Chúng tôi cùng ăn chung nắm cơm, cùng chia nhau từng ngụm nước, cùng động viên nhau vượt qua những ngày thiếu thốn. Khi có người bị ốm, cả đơn vị thay nhau chăm sóc. Khi có người nhận được thư nhà, cả tiểu đội quây quần nghe đọc rồi cùng cười, cùng nhớ quê.
Năm 1975, đất nước thống nhất. Tôi trở về quê hương Tuyên Quang, tiếp tục lao động, xây dựng cuộc sống mới. Mỗi lần đi trên những con đường rộng mở hôm nay, tôi lại nhớ về những ngày tuổi hai mươi đầy gian khó nhưng cũng đầy tự hào.



