CÂU CHUYỆN VỀ MỘT THỜI HOA LỬA ĐÓ LÀ NHÂN VẬT NGUYỄN VĂN KHANG
Trong những trang sử hào hùng của phong trào cách mạng Việt Nam, đặc biệt là tại vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh giàu truyền thống văn hiến và đấu tranh bất khuất, có biết bao người con ưu tú đã gác lại hạnh phúc riêng để dấn thân vào con đường cứu nước. Một trong những tấm gương sáng ngời tiêu biểu cho ý chí kiên cường ấy là ông Nguyễn Văn Khang. Từ đầu những năm 1940, khi ngọn lửa Cách mạng tháng Tám còn đang được nhen nhóm trong lòng đất mẹ, ông đã dũng cảm bước vào hàng ngũ những chiến sĩ hoạt động bí mật trong lòng địch. Đối mặt với sự lùng sục gắt gao của kẻ thù, ông đã bám trụ vững vàng tại các làng xã quê hương, trở thành một mắt xích quan trọng nối liền phong trào cách mạng địa phương với chiến khu.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Bắc Ninh, ngay từ thời thanh niên, ông Nguyễn Văn Khang đã tận mắt chứng kiến cảnh người dân quê mình lầm than dưới ách áp bức của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Năm 1940, khi Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định tăng cường xây dựng các ATK (An toàn khu) dự phòng ở vùng ven Hà Nội, ông Khang đã sớm giác ngộ lý tưởng Cộng sản và được giác ngộ vào hàng ngũ Việt Minh. Nhiệm vụ của ông là hoạt động bí mật dưới vỏ bọc một người dân cày, một thợ thủ công nhằm xây dựng cơ sở, đưa đón cán bộ và cất giấu tài liệu mật của Đảng. Địa bàn hoạt động của ông trải rộng khắp các vùng trọng điểm cách mạng lúc bấy giờ. Từ những năm 1941 - 1943, ông Khang lặn lội qua các làng cổ thuộc huyện Đông Ngàn (nay là thành phố Từ Sơn) và huyện Tiên Du – nơi có các cơ sở nuôi giấu cán bộ cốt cán của Xứ ủy Bắc Kỳ. Với sự mưu trí, ông lấy các đình chùa, những ngôi nhà ba gian ẩn sau rặng tre ngà ở các xã như Đình Bảng, Phù Khê (Từ Sơn) hay vùng Phật Tích, Lạc Vệ (Tiên Du) để làm trạm giao liên bí mật.
Giai đoạn 1943 - 1945 là thời kỳ gian khổ và khốc liệt nhất. Kẻ địch thiết lập đồn bốt dày đặc, mật thám rải khắp các nẻo đường nhằm chặt đứt con đường tiếp tế của ta. Để bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, ông Khang chuyển trọng tâm hoạt động về các xã dọc tuyến sông Đuống thuộc huyện Thuận Thành và vùng chiêm trũng Yên Phong. Đã có những đêm đông giá rét năm 1944, bị mật thám bám đuôi sau một cuộc họp bí mật tại tổng nội duệ (Tiên Du), ông phải băng qua các cánh đồng lầy lội, ngâm mình dưới những ao bèo ở làng huyện Yên Phong suốt nhiều giờ liền để bảo vệ bằng được gói tài liệu chiến lược của Xứ ủy. Sự gan dạ của ông và sự che chở của những bà mẹ kháng chiến tại các làng quê Bắc Ninh đã khiến mọi âm mưu "nhổ cỏ tận gốc" của thực dân Pháp phải thất bại. Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, nạn đói khủng khiếp hoành hành khắp dải đồng bằng Bắc Bộ. Thực hiện chỉ thị "Sắm vũ khí đuổi thù chung", ông Khang tích cực tham gia vận động quần chúng phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân nghèo tại địa bàn các huyện. Đến tháng 8 năm 1945, khi lệnh Tổng khởi nghĩa được ban bố, các cơ sở quần chúng mà ông Khang dày công gây dựng, nuôi dưỡng tại khắp các xã thuộc Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành đồng loạt đứng lên. Hòa chung khí thế sôi sục của ngày 18 tháng 8 năm 1945 – ngày nhân dân Bắc Ninh nổi dậy giành chính quyền thắng lợi ở tỉnh lỵ, ông Khang đã trực tiếp dẫn đầu lực lượng tự vệ địa phương tước vũ khí của bảo an binh, đập tan chính quyền phong kiến tay sai, cắm lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên mảnh đất quê hương.
Hòa bình lập lại, trải qua những thăng trầm của lịch sử, ông Nguyễn Văn Khang trở về với cuộc sống đời thường, vẹn nguyên phẩm chất giản dị, kiên trung của một người chiến sĩ cách mạng. Câu chuyện về những năm tháng hoạt động bí mật trong lòng địch từ thập niên 1940 tại các làng quê Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong của ông đã trở thành một phần máu thịt của lịch sử cách mạng tỉnh Bắc Ninh. Cuộc đời ông không chỉ là niềm tự hào của gia đình, dòng họ, mà còn là một tấm gương sáng ngời, một "địa chỉ đỏ" tinh thần lưu danh trong sử sách địa phương, nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về cái giá của độc lập, tự do và trách nhiệm gìn giữ, dựng xây quê hương Kinh Bắc ngày càng giàu đẹp.



