Câu chuyện về người anh hùng vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày 5/6/1911, với tên gọi Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Hành trình gần 30 năm đầy gian nan ấy xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc và khát vọng giành độc lập, tự do cho đồng bào.
Như nhà thơ Chế Lan Viên từng viết trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước”: “Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi/ Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác” hai câu thơ đã gợi lên hình ảnh người thanh niên yêu nước quyết tâm rời quê hương để tìm con đường giải phóng dân tộc. Sinh năm 1890 với tên khai sinh Nguyễn Sinh Cung, khi đi học Người mang tên Nguyễn Tất Thành (Tất trong “tất cả”, Thành trong “thành công”, ý nghĩa là làm việc gì cũng thành công, thể hiện kỳ vọng của thân phụ là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc vào tương lai và sự nghiệp luôn thuận lợi của con trai); trong quá trình hoạt động cách mạng, Người còn sử dụng các tên gọi như Văn Ba, Nguyễn Ái Quốc (Ái Quốc nghĩa là yêu nước) và Hồ Chí Minh.
Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu vào ngày 5/6/1911, khi người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lấy tên Văn Ba, rời bến cảng Nhà Rồng trên con tàu Amiral Latouche-Tréville để sang phương Tây tìm con đường giải phóng dân tộc. Năm 1913, khi đến nước Anh, Người phải làm nhiều công việc nặng nhọc như cào tuyết, đốt lò, rửa bát và phụ bếp để kiếm sống. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, Người vẫn chăm chỉ học tiếng Anh, tích lũy kiến thức và quan sát cuộc sống của người lao động. Đặc biệt, lòng nhân ái của Người được thể hiện qua việc dành thức ăn cho những người nghèo khó. Trong thời gian này, Người còn tham gia các hoạt động của người lao động Việt Nam ở nước ngoài và trao đổi thư từ với cụ Phan Châu Trinh.
Trong gần 30 năm bôn ba qua nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ, Người nhận ra rằng ở đâu chủ nghĩa thực dân, đế quốc cũng áp bức con người, còn những người lao động luôn phải chịu nhiều bất công. Qua những năm tháng bôn ba, Người thấu hiểu nỗi thống khổ của các dân tộc thuộc địa và nhận ra rằng muốn giải phóng dân tộc, cần tìm một con đường
đấu tranh đúng đắn. Năm 1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người cùng những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” đến Hội nghị Hòa bình Versailles, đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
Bước ngoặt quan trọng đến vào năm 1920, khi Người đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Từ đây, Người tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: con đường cách mạng vô sản. Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.” Cũng trong năm ấy, Người tham dự Đại hội Tours, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở các lớp huấn luyện cán bộ, xuất bản báo “Thanh Niên” và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam. Trong những năm 1928–1929, Người tiếp tục hoạt động tại Thái Lan, Singapore và Malaysia, tuyên truyền, vận động Việt kiều, xây dựng cơ sở cách mạng và kết nối phong trào yêu nước. Ngày 3/2/1930, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra bước phát triển mới cho cách mạng nước ta.
Tuy nhiên, hành trình ấy không chỉ có những thành công mà còn trải qua nhiều thử thách. Năm 1931, Người bị chính quyền Anh bắt giữ tại Hồng Kông và đến năm 1933 mới được trả tự do. Sau đó, Người trở lại Liên Xô, tiếp tục học tập tại Trường Quốc tế Lênin và hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế. Trong những năm tháng gian khó ấy, tấm gương đấu tranh bất khuất của nhà ái quốc Ireland Terence MacSwiney cũng khiến Người khâm phục: “Can đảm biết bao! Dũng cảm biết bao! Một dân tộc có những người như ông Coóc sẽ không bao giờ đầu hàng.”
Sau gần 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Người trở về Pác Bó, Cao Bằng, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết toàn dân đấu tranh giành độc lập. Tháng 8/1945, Cách mạng tháng Tám thành công, mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc. Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, Người tiếp tục
lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước. Tuy nhiên, ngày 2/9/1969, Bác qua đời khi ước nguyện thống nhất non sông vẫn chưa hoàn thành. Bác Hồ qua đời, để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng đồng bào cả nước. Nỗi đau ấy được nhà thơ Tố Hữu khắc họa trong bài thơ “Theo chân Bác”:
“Tháng năm ơi, có thể nào quên
Hàng bóng cờ tang thắt dải đen
Rủ giữa lòng đau. Ta nhớ mãi
Cuộc đời như ngọn lửa đầu tiên.”
Đến ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước tiến tới thống nhất, thực hiện khát vọng mà Bác hằng mong ước. Hành trình của Người mãi là tấm gương sáng về lòng yêu nước và sự cống hiến trọn đời cho dân tộc. Vì thế, Người là tấm gương sáng cho nhân dân, cho người trẻ, mầm non đất nước, mỗi công dân, thanh niên và thiếu nhi đều cần hiểu về hành trình này để nỗ lực, cống hiến và biết ơn, gìn giữ.
BÁC HỒ MÃI LÀ VỊ ANH HÙNG VĨ ĐẠI NHẤT CỦA ĐẤT NƯỚC TA!



