Câu chuyện về người chiến sĩ và chiếc quan tài độc mộc cuối cùng

Trong những năm tháng hành quân dọc miền Tây Bắc biên giới Việt - Lào, kẻ thù đáng sợ nhất của lính Tây Tiến không chỉ là súng đạn của phát xít Pháp, mà là cơn sốt rét ác tính. Giữa rừng sâu tăm tối, thuốc súng có thể thiếu nhưng thuốc súng không đáng sợ bằng việc thiếu thuốc ký ninh (thuốc trị sốt rét). Có những ngày, cả trung đội nằm bẹp bên sàn nhà sàn, người run bần bật vì những cơn sốt co thắt.
Một ngày mùa đông năm 1947 tại Mường Hinh, có một chiến sĩ trẻ tên là Hùng – vốn là một học sinh kháng chiến trường Bưởi (Hà Nội). Hùng bị sốt rét ác tính hành hạ đến mức da dẻ xanh xao, người gầy rộc. Biết mình khó qua khỏi, đêm trước khi mất, Hùng thều thào gọi người bạn thân đồng hương nằm bên cạnh và gửi lại một chiếc khăn mùi soa – kỷ vật của một cô gái Hà Nội tặng anh ngày lên đường tản cư. Hùng nói:
"Nếu mình không về được Thủ đô, cậu nhớ mang cái này trả lại cho cô ấy, bảo mình vẫn giữ trọn lời thề."
Sáng hôm sau, Hùng hy sinh khi tuổi đời chưa đầy hai mươi.
Giữa rừng núi hoang vu, việc lo hậu sự cho đồng đội là một nỗi đau thắt lòng. Theo phong tục của đồng bào người Thái địa phương, khi có người khuất, họ sẽ đục một thân cây cổ thụ lớn để làm quan tài độc mộc. Nhưng thời điểm đó, bản làng tản cư, gỗ hiếm, trong bản chỉ còn duy nhất một chiếc quan tài độc mộc mà cụ già trưởng bản đã chuẩn bị sẵn cho ngày mình nhắm mắt xuôi tay.
Khi thấy các chiến sĩ trẻ Tây Tiến loay hoay, gạt nước mắt định dùng tấm chiếu rách quấn thi thể Hùng để chôn cất, cụ già trưởng bản đã chống gậy bước đến. Cụ bảo con cháu khênh chiếc quan tài độc mộc của chính mình ra và nói:
"Bộ đội cụ Hồ từ dưới xuôi lên đây bảo vệ bản làng của người Thái, người Lào. Bộ đội chết vì dân thì dân phải lo cho bộ đội. Lấy cái áo quan này mà khôn lớn cho nó (cho người chiến sĩ)."
Chiếc quan tài ấy được đục đẽo thô sơ bằng thân cây rừng, rất nặng. Những người đồng đội – những chàng trai Hà thành vốn quen cầm bút hơn cầm xẻng – đã cùng nhau đào một nấm mộ sâu bên sườn núi. Khi hạ huyệt, không có một tiếng kèn trống, không có súng bắn tiễn biệt vì sợ lộ bí mật quân sự với đồn địch bên kia vách núi.
Nhà thơ Quang Dũng, lúc đó cũng có mặt, đã đứng lặng yên trong làn sương mù đậm đặc của vùng biên giới. Anh nhìn chiếc áo quan bằng gỗ rừng, nhìn những đôi bàn tay rớm máu của đồng đội đang vội vã lấp đất. Phía dưới thung lũng, tiếng gầm dữ dội của dòng Sông Mã cuồn cuộn chảy như thay cho loạt súng tiễn đưa, hòa vào nỗi đau câm lặng của những người lính trẻ.
Bức tranh thực tế đầy nước mắt ấy sau này đã được Quang Dũng đúc kết lại bằng hai câu thơ bất hủ, biến cái bi thương thành cái bi tráng:
"Áo bào thay chiếu anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành."
Người lính Tây Tiến ngã xuống thanh thản như vậy. Họ coi tấm chiếu rách, manh áo sờn vai là chiếc "áo bào" lộng lẫy nhất của cuộc đời chiến sĩ, và gửi thân xác lại cho lòng đất mẹ bao dung.



