CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH NGUYỄN VĂN HÒA
CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH NGUYỄN VĂN HÒA
Trong dòng chảy lịch sử hào hùng của dân tộc, mỗi miền quê Việt Nam đều in dấu những câu chuyện thấm đẫm tinh thần yêu nước và lòng quả cảm. Hưng Hà – vùng đất giàu truyền thống của tỉnh Thái Bình – cũng mang trong mình những trang sử bi tráng ấy. Những cánh đồng lúa xanh ngát, những dòng sông hiền hòa của nơi đây đã từng tiễn biết bao lớp thanh niên lên đường vì độc lập Tổ quốc. Và trong số những người con ưu tú ấy, cựu chiến binh Nguyễn Văn Hòa, ở xã Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, là biểu tượng giản dị nhưng vô cùng đáng trân trọng.
Ông Hòa sinh năm 1951, trong một gia đình nông dân nghèo đông con. Những năm 60 của thế kỷ trước, đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, khắp nơi vang tiếng loa đưa tiễn thanh niên lên đường nhập ngũ. Ông kể rằng khi đó, dù còn trẻ, ông chỉ có một ước mong duy nhất: “Mình phải bảo vệ quê hương này. Bằng mọi giá.”
Năm 1969, vừa tròn 18 tuổi, ông Hòa tình nguyện lên đường nhập ngũ. Cả nhà tiễn ông dưới bóng cây bàng trước sân, mẹ ông nắm chặt tay con trai, nước mắt lăn dài nhưng giọng vẫn kiên cường: “Đi đi con, lo cho Tổ quốc trước rồi mới có ngày bình yên mà trở về”. Lời dặn ấy theo ông suốt cả tuổi trẻ, như một ngọn lửa âm ỉ không bao giờ tắt.
Sau ba tháng huấn luyện, ông được biên chế vào Trung đoàn 48, Sư đoàn 320, rồi hành quân vào chiến trường Quảng Trị – một trong những nơi đẫm máu nhất thời bấy giờ.
Khi nhắc lại quãng thời gian ác liệt ấy, ánh mắt ông Hòa vừa rắn rỏi vừa trầm lắng. Ông bảo: “Quảng Trị năm 1972, đất không còn nguyên vẹn, trời lúc nào cũng tối vì khói bom. Nhưng lính trẻ như chúng tôi chẳng biết sợ là gì”.
Ông cùng đồng đội tham gia giữ chốt suốt nhiều tháng liền, đối mặt với bom pháo, thiếu thốn lương thực và dịch bệnh. Trong những mẩu chuyện ông kể, có niềm vui hiếm hoi, có mất mát đau lòng, có tình đồng đội gắn bó như ruột thịt.
Trận chiến khiến ông nhớ mãi xảy ra vào ngày 14/7/1972. Đơn vị ông nhận lệnh giữ một điểm cao chiến lược trong khi địch pháo kích dữ dội. Đất rung chuyển từng hồi, mảnh bom bay rít xé không khí. Trong lúc hỗ trợ đồng đội bị thương, một mảnh pháo đã xuyên qua vai ông, máu chảy ướt cả áo. Dù đau đớn nhưng ông vẫn cố giữ tỉnh táo, dìu từng thương binh ra khỏi vùng bom rơi.
Nhờ tinh thần kiên cường, đơn vị ông giữ được vị trí, góp phần quan trọng vào chiến dịch. Vì sự dũng cảm ấy, ông Hòa được tuyên dương và sau này được trao Huy chương Chiến sĩ Giải phóng.
Nhưng cái giá của chiến tranh không chỉ là vết thương trên cơ thể. Ông đã chứng kiến nhiều đồng đội ngã xuống, có người chỉ mới 20 tuổi. Ông nói chậm rãi: “Chúng tôi sống sót trở về, nhưng một phần tuổi trẻ thì vẫn nằm lại nơi những dòng sông, cánh rừng ấy”.
Ngày đất nước thống nhất, ông Hòa trở về quê trong niềm vui khôn xiết. Nhưng sự vui mừng ấy nhanh chóng nhường chỗ cho những nỗi lo: cuộc sống nghèo khó, vết thương chiến tranh tái phát, gia đình đông anh em, ruộng đồng cằn cỗi.
Nhưng ông không nản chí. Mang tinh thần của người lính, ông bắt tay vào làm ruộng, khai hoang đất, trồng lúa, nuôi lợn, nuôi gà… để ổn định cuộc sống. Ông lập gia đình, nuôi dạy con cái bằng chính đôi bàn tay chai sần của một cựu binh từng vào sinh ra tử.
Vết thương chiến tranh vẫn hành ông mỗi khi trái gió trở trời, nhưng chưa bao giờ khiến ông lùi bước. Ông còn tích cực tham gia hoạt động xã hội, trở thành Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh của thôn nhiều năm liền. Ông vận động hội viên thực hiện phong trào “Cựu chiến binh gương mẫu”, tuyên truyền con cháu tránh xa tệ nạn, giữ gìn truyền thống quê hương.
Ông còn đặc biệt tâm huyết với việc giáo dục thế hệ trẻ. Nhiều buổi sinh hoạt Đoàn, ông được mời về kể chuyện chiến tranh. Lời ông mộc mạc, không khoa trương, nhưng xúc động và chân thật đến mức nhiều học sinh đã rơi nước mắt.
Dù tuổi đã cao, ông Hòa vẫn giữ cho mình nếp sống giản dị và lạc quan. Sáng nào ông cũng dậy sớm, tưới vài khóm hoa trước sân, rồi đi bộ ra nhà văn hóa thôn gặp gỡ bạn bè. Những cựu chiến binh cùng thế hệ với ông, người còn người mất, nhưng tình đồng đội vẫn vẹn nguyên như thuở nào.
Ngôi nhà của ông treo trang trọng bức ảnh tập thể đơn vị chụp năm 1973. Ông thường đứng lặng nhìn thật lâu, rồi khẽ nói: “Có người đã mãi mãi nằm lại. Mình sống được tới hôm nay là nhờ họ”.
Những ngày lễ, ông cùng Hội CCB thăm hỏi các thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ trong xã. Các hoạt động ấy với ông không phải trách nhiệm mà là tình nghĩa – thứ tình nghĩa chỉ những người đã cùng đi qua chiến tranh mới thấu hiểu.
Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Hòa không chỉ là câu chuyện của riêng một người lính, mà là đại diện cho tinh thần kiên cường, bất khuất của biết bao cựu chiến binh Hưng Hà – những người đã hiến trọn tuổi trẻ cho hòa bình hôm nay.
Khi rời ngôi nhà nhỏ của ông, tôi cảm nhận rõ một điều:
Chúng ta đang sống trong sự tiếp nối của quá khứ, trong những hy sinh thầm lặng của cha anh.
Thế hệ trẻ hôm nay có thể không hiểu hết khốc liệt của chiến tranh, nhưng qua những câu chuyện chân thật như của ông Hòa, chúng tôi học được lòng biết ơn, sự trân trọng và trách nhiệm xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.


