Câu chuyện về người đã trở về sau “địa ngục trần gian” Phú Quốc- cụ Đặng Văn Tạo
Bà Đặng Thị Cúc hiện đang sinh sống tại Xóm 2-Đức Nhuận-Triệu Việt Vương-Hưng Yên
Trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, thế hệ đi trước đã trải qua biết bao hy sinh và mất mát để bảo vệ Tổ quốc. Mỗi gia đình đều có một câu chuyện, một ký ức không thể quên về những người đã đi qua lửa đạn. Qua lời kể của bà nội tôi – bà Đặng Thị Cúc, tôi được biết về hành trình đầy đau thương nhưng cũng vô cùng kiên cường của cụ tôi – cụ Đặng Văn Tạo – người đã trở về sau “địa ngục trần gian” Phú Quốc. Và sau đây tôi xin kể lại câu chuyện.
Ngày xưa, cụ tôi làm kế toán của hợp tác xã, sau đó đi bộ đội. Cụ vào miền Nam năm 1966. Đến năm 1968, trong lúc cụ đang ở hầm trên một quả đồi vì sốt rét và có các bác sĩ chăm sóc, máy bay của địch dò la tìm người. Cụ bảo chúng cứ bay đi bay lại. Một lúc sau, chúng bắt đầu tiến vào, cụ cùng các đồng chí cố gắng chạy thật xa, nhưng cuối cùng lại phải quay về cửa hang vì đó là lối thoát duy nhất nên cụ đã bị phía Mỹ bắt và họ kéo cụ từ dưới lên đỉnh đồi đầy đá rồi lại kéo xuống, khiến chân tay cụ xây xước. Sau đó, cụ bị đưa lên máy bay và giam ở Mỹ một thời gian.
Cụ bảo tù binh chết nhiều lắm, đầy người đói, người sinh bệnh rồi người bị chúng hành hạ. Trong lần trao trả tù binh lần đầu tiên giữa hai nước, cụ về sông Thạch Hãn. Ta trao trả một người thì chúng trao trả một người. Cụ kể rằng khi giam lính thì bên ta cho lính bên họ mặc quần áo đàng hoàng và ăn uống đầy đủ, còn chúng chỉ cho ta ăn cơm với muối và mặc bao tải.
Ở đó có những người tiếp tân và cụ mới gặp một người đấy. Người ta bảo rằng: “Em ở Hàm Tử. Thế anh ở đâu?” – “Anh ở Dạ Trạch.” Cụ bảo: “Thế nếu em về, em nhắn người nhà anh là anh còn sống, anh sẽ trở về.” Người đó đã lên trên này báo cho gia đình tôi biết. Cụ bà phấn khởi lắm, bảo đến bao nhiêu người. Cụ nhờ bắt gà để làm thịt đãi ông ấy thay lời cảm ơn. Thế nhưng ông ấy bảo: “Bây giờ anh em chưa về, bao giờ anh em về thì em lên ăn mừng cho gia đình.” Lúc đó thì nhà cứ nửa tin nửa ngờ vì trước đó cụ đã có giấy báo tử rồi. Cụ về thì gầy và xanh xao quá, người ta không dám cho về gia đình luôn. Đến khi mà cụ được đưa đến nhà an dưỡng, cụ viết thư về, bấy giờ gia đình mình mới hoàn toàn yên tâm.
Cụ kể chuyện với bà tôi rằng khi bị giam, cụ vẫn làm bí thư và vẫn họp hành mọi thứ như bình thường. Vì đảo Phú Quốc là ở gần biển nên tất cả anh em đã tập trung bàn kế hoạch rồi thay nhau đào hầm để chui ra biển về. Cụ bảo đào gần ra đến nơi rồi, chỉ còn ít nữa là chọc thủng, nước vào là bắt đầu anh em cứ thế bơi ra ngoài đảo, thì chúng phát hiện ra. Chúng lôi ra đánh đập. Chúng đánh dã man bằng những dây sắt: đầu, mặt, mũi, chân tay không trừ chỗ nào cả. Rồi có lúc nó kìm chân, nó xây một khung sắt hình vòm rồi bắt người của mình vào đó. Cứ trời mà mưa thì nó rào xung quanh, nó không cho mình ra. Đứng không đứng được, mà nằm không nằm được, ngồi không ngồi được; cứ khom lưng đứng suốt ngày suốt đêm như thế. Giải quyết tại chỗ và mọi thứ chúng đều để nguyên như vậy. Đặc biệt, những người con gái vào những ngày “khó khăn”, vì trong tù thiếu thốn đủ thứ, các anh em đều nhường quần áo và chăm sóc họ hết sức có thể.
Cụ kể rằng hôm nghe tin Bác Hồ mất, cả nhà tù như lặng đi, anh em chiến sĩ không ai cầm được nước mắt. Thấy vậy, quân địch liền lôi tất cả ra đánh, muốn dập tắt tình yêu nước và niềm kính trọng mà các chiến sĩ dành cho Bác. Nhưng càng bị đánh đập, anh em càng nén đau mà giữ vững khí tiết. Trong ánh mắt mỗi người vẫn sáng lên niềm tin rằng một ngày nào đó đất nước sẽ độc lập, tự do như Bác hằng mong. Cụ bảo, chính những giờ phút tưởng như tăm tối ấy lại trở thành sức mạnh để mọi người nương tựa vào nhau, gìn giữ tinh thần cách mạng và quyết tâm sống sót trở về tiếp tục chiến đấu.
Một hôm có người họ hàng xa đi vào theo phe bên Mỹ, hỏi cụ là:
“Mày có phải là con nhà bà Phấn không? Nếu phải thì nói thật, tao sẽ giúp đỡ mày, không phải chịu đánh đập, còn không thì mày sẽ chết theo chúng nó.”
Cụ tôi bảo: “Không! Tao không phải.”
Người kia hỏi tiếp: “Mày có phải ở Dạ Trạch, Khoái Châu không?”
Cụ trả lời: “Tao không biết Dạ Trạch Khoái Châu ở đâu cả.”
Sau đó cụ vẫn đảm nhiệm vai trò bí thư trong tù. Khi trở về, cụ phụ trách việc ghi lại tên tuổi, ngày tháng qua đời của những người đã mất trong trại để cơ quan thương binh – xã hội gửi giấy báo tử đến gia đình họ.
Cụ bảo rằng chỉ những ai thật sự khỏe mạnh mới có thể sống sót. Những người bị bắt phải chịu cực hình nghiêm trọng: bị dìm xuống thùng nước có pha xà phòng và xì dầu; khi ngóc đầu lên lại bị dìm tiếp. Họ bị ép khai báo. Những tù nhân chính trị – những người hoạt động cách mạng thì chịu tra tấn nặng hơn rất nhiều. Anh em trong tù chỉ bảo nhau một điều: không khai báo, dù có phải hy sinh cũng không được chỉ điểm nhau, không được nêu tên ai. Cứ như vậy, họ bị xích lại hết, để mặc cho chúng đánh đập đến khi chúng tự ngừng.
Khi cụ được trả tự do, đầu tiên được đưa xuống nơi an dưỡng, cụ mới thực sự bình yên trở lại. Cụ bị suy giảm 67% sức khỏe, hiện chỉ còn khoảng 33%. Cụ kể rằng trong tù, chúng đánh cụ bằng xà beng, khiến cụ gãy xương bả vai bên trái và hai xương sườn. Những vết thương ấy đã để lại hậu quả lâu dài đối với sức khỏe của cụ tôi.
Câu chuyện của cụ qua lời kể bà tôi không chỉ là một hồi ký chiến tranh mà còn là minh chứng rõ ràng nhất cho tinh thần bất khuất của thế hệ cha ông. Nghe lại từng chi tiết, từng nỗi đau mà cụ phải trải qua, tôi càng cảm nhận sâu sắc giá trị của hòa bình hôm nay. Tôi tự hào vì trong gia đình mình có một người đã sống, chiến đấu và chịu đựng những điều tưởng như không thể chịu nổi, nhưng vẫn giữ trọn khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Câu chuyện của cụ sẽ mãi là niềm tự hào và là bài học quý để tôi và thế hệ trẻ biết trân trọng hơn và tiếp nối những hy sinh của những người đã hy sinh cho dân tộc.



