câu chuyện về người lính Pò Hèn
ký ức người lính sau trận chiến Pò Hèn
Ông Hoàng Như Lý (SN 1952, quê huyện Bình Liêu, Quảng Ninh) nguyên là chiến sĩ Đồn 209 (nay là Đồn Biên phòng Pò Hèn) và là số ít nhân chứng còn sống sau trận chiến vào rạng sáng ngày 17/2/1979.
Dù 45 năm đã trôi qua, nhưng ký ức về cuộc chiến khốc liệt vẫn hằn in trong tâm trí ông. Ông Lý kể, tháng 2/1972, ông được điều động từ Công an vũ trang tỉnh Quảng Ninh về Đồn Biên phòng Pò Hèn.
Thời điểm này, Đồn Biên phòng Pò Hèn chỉ có 15 người với sự chỉ huy của Đồn trưởng Vũ Ngọc Mai, Đồn phó phụ trách quân sự là ông Đỗ Sĩ Họa.
Quân số ít ỏi, mọi người trong đồn đều phải đảm nhiệm nhiều công việc. Có những đêm mùa Đông, trời rét cắt da thịt, ông cùng những chiến sĩ khác vẫn băng rừng để tuần tra cột mốc, xem xét tình hình biến động.
Cuối năm 1978, Đồn Biên phòng Pò Hèn được huy động thêm lực lượng, tổng quân số lúc này là hơn 90 người, đa số là những tân binh có tuổi đời còn rất trẻ từ 18 đến 20 ở các địa phương lân cận.
"Ngày đó không có đường đẹp như bây giờ, muốn vào tới đồn là phải đi bộ băng rừng cả ngày trời, việc thiếu lương thực là chuyện thường tình khi cả đồn chỉ có 2 con ngựa thồ. Anh em vẫn phải đi đào măng rừng để chống đói", ông Lý nhớ lại.
Ông kể, chiều 16/2/1979, đồn của ông và lâm trường Hải Sơn tổ chức giao lưu văn nghệ, thể thao và thống nhất sáng hôm sau sẽ giao hữu đá bóng. Ai cũng háo hức không ngủ được vì lâu lắm rồi hai đơn vị mới có dịp gặp gỡ.
5h sáng ngày 17/2/1979, 60 vạn quân Trung Quốc đồng loạt vượt biên giới kéo dài 1.400km tiến vào 6 tỉnh của Việt Nam gồm Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai và Yên Bái), Lai Châu.
Quân Trung Quốc dùng pháo kích bắn tới tấp vào các điểm chốt, trụ sở của đồn Pò Hèn. Trời nhá nhem nhưng pháo cối bắn sáng lóa cả một vùng trong cả nửa tiếng.
Chiến sự bớt căng thẳng, ông Lý xin phục viên về quê, cuối năm 1979, ông kết hôn với bà Đỗ Thị Thơm (SN 1954) và quyết định sinh sống tại TP Móng Cái.
Năm 1980, ông Lý xin vào làm việc ở đội xây dựng của lâm trường Móng Cái. Ban ngày ông đi làm, tối về làm thêm bằng việc sửa ắc quy, quấn dây đồng biến thế để nghe đài hay cuối tuần làm thợ xây để có chi phí trang trải cuộc sống.


