Câu chuyện về người Mẹ Nguyễn Thị Thứ
“Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ... Các anh không về... mình Mẹ lặng im”...., những ngày này, lời bài hát “Người mẹ của tôi” vang lên như chan chứa cõi lòng, ghi nhớ đến những bà Mẹ Việt Nam Anh hùng (VNAH), trong đó có Mẹ Thứ - biểu tượng vĩnh hằng của những người Mẹ Việt Nam Anh hùng với sự cống hiến, hy sinh vô bờ bến; là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Không chỉ oằn mình chịu đựng những năm tháng chiến tranh khốc liệt của mưa bom bão đạn mà còn sống cùng nỗi đau mất con suốt cả quãng đường còn lại của cuộc đời... Nhưng Mẹ vẫn sống, vẫn vững chãi giữa dòng đời như một biểu tượng vĩnh hằng của sức mạnh dân tộc Việt Nam.
14 lần tiễn người đi, 12 lần khóc thầm lặng lẽ
Mẹ Thứ tên đầy đủ là Nguyễn Thị Thứ (sinh năm 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ mẹ sinh năm 1902) tại xóm Rừng (thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, Quảng Nam); mất ngày 10-12-2010 tại TP. Đà Nẵng, đại thọ 106 tuổi. Năm 18 tuổi, mẹ lập gia đình với ông Lê Tự Trị (mồ côi cả cha lẫn mẹ). Xuất thân từ gia đình đông con, nghèo khó, trong cảnh cơ hàn họ lại càng gắn kết với nhau hơn. Mẹ Thứ nuôi con trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ vẫn động viên, tiễn các anh ra chiến trường. Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 người con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH) khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Như vậy gia đình mẹ Thứ có 12 liệt sĩ.
Bám đất, bám làng
Những ngày tháng thanh xuân của Mẹ là cảnh liên tục chứng kiến cảnh các con vào chiến trường. Suốt 30 năm, từ kháng chiến chống thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ, mặc dù địch cày xới xóm làng, ngày đêm lùng sục, gia đình mẹ vẫn vững vàng ý chí, bám đất, bám làng “một tấc không đi một ly không rời” theo cách mạng. Đêm đêm vợ chồng mẹ xay lúa, giã gạo đóng góp nuôi quân và bảo vệ 5 căn hầm bí mật trong vườn nhà. Mẹ cần mẫn đào hầm trong vườn để nuôi giấu chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật ngay trong lòng địch. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở và khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm. Mỗi lần các anh ở dưới hầm đi lên làm nhiệm vụ trừ gian, diệt ác thì mẹ làm sẵn một thau lá rau lang giã nhỏ trộn với lọ nồi để các anh ngụy trang. Bao đêm dài Mẹ thao thức canh chừng nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm bí mật trong khu vườn nhà. Mẹ luôn để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động. Trong những năm tháng kháng chiến ác liệt, hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc... Mẹ hiền từ, nhiệt tình, thương anh em bộ đội giải phóng như con của mình. Mỗi dịp ghé về thăm, Mẹ dặn dò từng li, từng tí: "Sự nghiệp cách mạng còn dài, tụi bây phải cẩn thận", một cựu chiến binh từng được Mẹ chở che cho biết. Hiếm có người mẹ nào trên thế giới này lại mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh cho Tổ quốc như mẹ Thứ.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mảnh đất Điện Bàn, Quảng Nam chìm trong khói lửa; ruộng khô, nhà cháy. Mẹ Thứ chứng kiến địch cày xới từng góc nhà, từng mảnh vườn và mồ mả cha ông. Đôi mắt mẹ cháy lên ngọn lửa căm thù giặc từ trái tim của người dân yêu nước và ngọn lửa ấy truyền sang cho các con của mẹ. Các anh lần lượt lên đường. Và cứ thế, ngày ngày tháng tháng, mẹ vừa nuôi giấu cán bộ, vừa mong ngóng tin con.
“Chín bát hương, chín khúc ruột tái tê…”
Chiến tranh đã cướp đi những niềm hạnh phúc thiêng liêng nhất của đời mẹ. Mẹ Thứ lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 con trai và nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại hy sinh. Mất mát đầu tiên của đời mẹ là ngày 18/6/1948, anh Lê Tự Xuyến người con trai thứ hai, một chiến sĩ giao liên làm nhiệm vụ bị giặc Pháp bắn, hy sinh ngay tại đầu làng. Nước mắt mẹ chưa vơi thì tin dữ lại đến, ngày 5/10/1948, anh Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. Mười ngày sau, ngày 15/10/1948, anh Lê Tự Hàn Em cũng hy sinh trong một trận chống càn. Chỉ trong 4 tháng, mẹ đã mất 3 người con thân yêu của mình. Tiếp đến ngày 1/4/1954, anh Lê Tự Lem vừa tròn hai mươi tuổi, tham gia bộ đội huyện đã hy sinh trong lúc chiến đấu với giặc. Cứ thế, nấm mộ này cỏ chưa lên xanh, mẹ lại phải đắp thêm nấm mộ mới cho các con của mình. Nén nỗi đau thành ngọn lửa cách mạng, mẹ vẫn bền lòng kiên cường vượt qua mất mát, thử thách của chiến tranh. Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, một nắng hai sương, mẹ lại cùng chồng tảo tần kiếm sống, chăm lo nuôi dưỡng những đứa con còn lại. Nhưng những vết thương lòng chưa nguôi thì chiến tranh tàn khốc lại ập đến ngay trên mảnh đất quê hương.
“Giọt lệ chảy dài như dòng sông quê mẹ…”
Không chỉ 9 con trai hy sinh, người con rể của mẹ Thứ là Ngô Tường tham gia cách mạng từ thời chống Pháp, bị giặc Mỹ bắt năm 1956. Tuy bị tra tấn dã man nhưng ông không khai báo nửa lời; bị đánh đập đến kiệt sức, thi thể ông được chôn tại bãi cát Cẩm Hà (Hội An), được công nhận là liệt sĩ. Mẹ Thứ còn 2 cháu ngoại (con gái của mẹ Trị) là Ngô Thị Điểu bị giặc Mỹ bắt tra hỏi, hy sinh tháng 8-1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh trong lần công tác vào vùng địch hậu năm 1973. Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường. Tháng 9-1966, con trai Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh hy sinh. Năm 1974, anh Lê Tự Thịnh - Ðại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên hy sinh trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc. Nhưng có lẽ điều đau đớn nhất là khi con trai cả Lê Tự Chuyển - chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh vào 9 giờ ngày 30-4-1975 ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ đất nước thống nhất. Chỉ trước vài giờ khúc khải hoàn ca chiến thắng vang dậy, non sông thu về một mối. Anh ngã xuống khi nước nhà độc lập, người người nhà nhà mừng vui chiến thắng, riêng mình mẹ con tim vỡ vụn vì đớn đau. Anh đã không thể về bên mẹ mình. Mẹ Thứ tin rằng 9 đứa con thì ít nhất sẽ có một đứa về với mẹ nhưng mà không có ai về với mẹ cả….
Mỗi lần nghe tin một người con hy sinh là mẹ lại cắn răng khóc thầm. Mẹ thẩn thờ trong im lặng, thế rồi mẹ gắng gượng đứng dậy và tiếp tục động viên các anh khác lên đường. Mẹ Thứ thường mơ thấy các con trong giấc ngủ chập chờn và thức dậy thấp hương để an ủi chính mình và an ủi vong linh của những người con đã hy sinh vì đất nước, mong các con nơi xa yên lòng vì đất nước đã hòa bình. Ngày các anh đi…Mẹ còn nhớ nhớ rõ. Lúc đó các anh còn trẻ lắm, mới 18, đôi mươi. Các anh động viên mẹ đừng khóc. Mẹ lại động viên các anh yên tâm lên đường, rồi lặng lẽ khóc thầm. Vẫn biết sự khốc liệt của chiến tranh, ngày đi không biết ngày về, nhưng mẹ vẫn cố nuốt nước mắt vào trong để tiễn con lên đường vào nơi bom đạn. Mẹ Thứ đã hòa vào nỗi đau chung của đất nước, quê hương. Nhớ thương con cháu tha thiết, mẹ vẫn nén chịu, vững vàng vượt qua.
Sự đóng góp to lớn trong kháng chiến của gia đình mẹ Thứ đã được Nhà nước trao tặng Bảng vàng có công cách mạng, riêng mẹ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Độc lập hạng Nhất.
Ngày 17/12/1994, mẹ Nguyễn Thị Thứ vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Người con gái đầu của mẹ là Lê Thị Trị bị địch giam cầm, đánh đập, trở thành thương binh, được Đảng và Nhà nước tôn vinh Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có chồng và 2 con hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ.
Năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà. Sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân cho đến tuổi 106. Mẹ đã đoàn tụ với chồng và các con liệt sĩ vào ngày 10/12/2010. Mẹ không còn nữa nhưng tên tuổi của mẹ vẫn mãi mãi sáng ngời trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Những gì mẹ cống hiến cho Tổ quốc mãi là một tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo
Dù dành bao nhiêu trang giấy có lẻ cũng chưa nói lên hết nỗi đau mất mát và hy sinh của gia đình mẹ Thứ. Nhiều cựu lãnh đạo, cán bộ vẫn còn kể câu chuyện, vào năm 1998 khi một đoàn khách nước ngoài về thăm mẹ Thứ, một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận ?” Mẹ Thứ điềm tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”. Người cựu chiến binh Hàn Quốc sững người, rưng rưng nước mắt rồi thấp người xuống, cầm tay xin lỗi mẹ…..
Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ là biểu tượng của lòng yêu nước, sự hy sinh to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Mẹ vĩ đại không chỉ vì mẹ chịu đựng nỗi đau thầm lặng khi những người con thân yêu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc mà còn ở sự dâng hiến cao cả cho lý tưởng cách mạng của toàn dân tộc.
Những viên đạn bay ra từ nòng súng xuyên qua tim người lính, thì nó cũng xuyên nát tim của người mẹ mất con. Con người sinh ra là để sống. Nào để phân ly sống – chết chẳng bởi gì? Trái tim có bao giờ hiểu được mũi đạn đi. Nhưng ấy vậy vẫn không làm lung lay được tinh thần bà mẹ của những người con bất tử. “ Có cái chết hoá thành bất tử, có con người như chân lý sinh ra ’’ câu thơ Đặng Thuỳ Trâm viết không chỉ dành cho những người lính mà còn dành cho những người Mẹ Việt Nam Anh hùng bởi chính những các mẹ người sống trong mất mát nhớ thương suốt phần đời còn lại của cuộc đời mới chính là hình bóng bất tử là hiện than cao đẹp của lòng yêu nước không lời. Hoà bình hôm nay là nhờ máu xương người con và còn là nước mắt của người mẹ. Lo cho người mẹ già không nơi nương tựa đang mòm mỏi ngóng con từng ngày nhưng họ vẫn nợ mẹ mình một lời hứa trở về .
Để có hoà bình, dân tộc ta phải đánh đổi rất nhiều xương máu của bao thế hệ, là máu thịt của dân tộc là sợi dây nối liền quá khứ và hiện tại. Nhắc ta về giá trị của hoà bình, của tình yêu thương và trên hết là nhắc ta biết ơn những con người đã đi qua chiến tranh bằng tất cả niềm tin và hy vọng. Họ cống hiến hết tuổi thanh xuân của mình để giải phóng trọn vẹn đất nước, để thế hệ hôm nay được sống những ngày ấm yên. “ Thời bình là di sản. Tự do không phải là điều mà đất nước này tự nhiên có được mà là do đồng bào này giành lấy. Đã là di sản phải được bảo tồn ’’ Chúng ta học trong lịch sử và qua kí ức của những người đi trước, chúng ta hiểu sâu sắc giá trị của hoà bình, độc lập dân tộc phải đánh đổi bằng cả sinh mạng và nước mắt. Người trẻ chúng ta con sinh ra và lớn lên trong thời bình, chưa thật sự hiểu hết những gian khổ, hi sinh của các thế hệ đi trước. Nhưng ngày hôm nay xin được kính cẩn nghiêng mình và thể hiện lòng biết ơn sâu nặng đối với các anh hùng liệt sĩ, những người Mẹ Việt Nam Anh hùng đã vì độc lập dân tộc mà hy sinh thân mình. Hơn 1,2 triệu liệt sĩ, 800 ngàn tthương binh, hơn 50 nghìn người Mẹ Việt Nam Anh hùng, 300 nghìn ngôi mộ vô danh. Họ là đất nước, là chúng ta ngày hôm nay.
Mỗi công dân người Việt Nam dù ở quá khứ hay hiện tại đã, đang và sẽ luôn mang trong mình tinh thần dám nghĩ dám làm dám đương đầu với thử thách vươn lên trong mọi hoàn cảnh. Và ngày hôm nay đây đứng dưới bầu trời tự do, dưới nắng vàng bên dinh độc lập ngưỡng vọng lên quốc kì đỏ thẫm, ta sẽ lại nhìn thấy những thanh âm lại nhìn thấy tầm vóc của người chiến sĩ, người mẹ già. Thấy hào khí Rồng nước Nam, đặt tay lên ngực trái, lòng những người con dâng trào niềm tự hào, trách nhiệm với dân tộc. Để mai này chúng ta sẽ tự hào nói rằng: “ Dân tộc Việt Nam một dân tộc kiên cường, bất khuất, luôn hướng về phía trước ’’


