Câu chuyện về người mẹ Việt Nam anh hùng -Mẹ Nguyễn Thị Truyện và Mẹ Nguyễn Thị Cháu:
Trong những trang sử hào hùng của dân tộc, có những câu chuyện không cần được kể bằng những lời quá đỗi hoa mỹ, bởi chính cuộc đời của những con người trong đó đã tự tỏa sáng như những đốm lửa thiêng. Có những câu chuyện không được viết bằng giấy mực mà bằng chính nước mắt, bằng nỗi đau và niềm tự hào của những người mẹ Việt Nam. Ở mảnh đất Hưng Nguyên, Nghệ An giàu truyền thống cách mạng, hai người mẹ - Mẹ Nguyễn Thị Truyện và Mẹ Nguyễn Thị Cháu - là những biểu tượng lặng lẽ nhưng rực sáng của thời hoa lửa, của đức hi sinh lớn lao cho độc lập tự do của Tổ quốc.
Sinh ra trong những năm tháng quê hương còn chìm trong gian khó, mẹ Nguyễn Thị Truyện ở xóm 1, xã Hưng Thịnh sớm thấm thía nỗi cơ cực của chiến tranh. Lập gia đình với ông Nguyễn Quang Tuệ, mẹ sinh được sáu người con, trong đó ba người là con trai. Cuộc đời mẹ tưởng như phẳng lặng, cho đến ngày chiến tranh gõ cửa. Khi Tổ quốc cần, mẹ không giữ riêng cho mình niềm hạnh phúc nhỏ bé, mà lặng lẽ tiễn các con trai lên đường, dẫu trong lòng nặng trĩu những nỗi lo không nói thành lời.
Năm 1965, người con trai cả Nguyễn Văn Nguyệt tình nguyện nhập ngũ, vào Nam chiến đấu. Không lâu sau, người con trai thứ là Nguyễn Văn Vương - mới 17 tuổi - cũng hăng hái ra trận. Nhưng những năm tháng ấy cũng là những ngày mẹ phải đối mặt với mất mát đau đớn nhất cuộc đời: hai giấy báo tử liên tiếp gửi về, báo tin hai người con thân yêu đã hi sinh trên chiến trường. Hai người con trai - hai phần ruột thịt - đã hóa thành cát bụi nơi chiến trường. Từ ngày ấy, mẹ không còn khóc thành tiếng nữa. Mẹ chỉ lặng im. Nhưng trong sâu thẳm tim mẹ, lửa tự hào vẫn âm ỉ cháy: các con đã sống trọn vẹn với Tổ quốc, với lý tưởng của cả một thế hệ.
Mỗi lần nhắc đến con, dù tuổi cao, trí nhớ lẫn dần, ánh mắt mẹ vẫn long lanh niềm tự hào. Các con của mẹ đã hóa thành mạch đất quê hương, thành sự bình yên của hôm nay. Năm 2014, mẹ được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng - sự ghi nhận thiêng liêng dành cho gia đình đã dâng hiến máu xương cho dân tộc.
Cũng trên mảnh đất Hưng Nguyên, Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Cháu - năm nay 92 tuổi là tấm gương sáng ngời của lòng yêu nước. Cuộc đời mẹ gắn với những nhọc nhằn của thời nghèo khó, nuôi nấng bảy người con bằng tất cả sự tảo tần của người phụ nữ quê lúa. Nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ vẫn vững vàng động viên các con lên đường, đặt lợi ích dân tộc lên trên nỗi lo riêng.
Trong số bảy người con, hai người con trai đầu của mẹ - liệt sĩ Hoàng Văn Xoan và Hoàng Trung Tính - đã hi sinh trong năm 1972, ở hai chiến trường ác liệt nhất: Quảng Trị và nước bạn Lào. Mẹ đã từng chờ đợi. Chờ tiếng bước chân quen, chờ tiếng gọi “mẹ ơi” phía đầu ngõ. Nhưng thay vào đó, mẹ nhận hai lá thư báo tử. Hai ấy là hai lần trái tim người mẹ như rơi xuống vực sâu. Không ai có thể hiểu nỗi đau của một người mẹ mất con, trừ chính những người mẹ đã bước qua nó bằng đôi chân trần run rẩy nhưng trái tim vẫn hướng về phía sáng. Nhưng mẹ vẫn kiên cường, bởi mẹ hiểu rằng sự hi sinh của con mình đã góp phần vào thắng lợi của dân tộc, góp phần vào hòa bình mà hôm nay thế hệ trẻ đang được sống.
Ở tuổi 92, mẹ Cháu vẫn nhớ như in dáng hình các con trong ngày lên đường, vẫn bùi ngùi nhớ lại những buổi chờ đợi mòn mỏi nơi đầu ngõ. Và khi nhắc đến các con, mẹ vẫn cười hiền:
“Chúng nó sống đẹp lắm… chết cũng đáng, vì nước mà con ạ.”
Hai mẹ, hai số phận, hai mái nhà bình dị, nhưng chung một trái tim yêu nước cháy bỏng. Các mẹ không phải là những người hùng trên chiến trường, nhưng là những người hùng của hậu phương. Ở họ hội tụ đức hy sinh, lòng nhân hậu, sự kiên cường của người mẹ Việt Nam qua mọi thời đại.
Những giọt nước mắt của mẹ, mất mát của mẹ Truyện và mẹ Cháu đã góp phần xây dựng, làm xanh màu trời hòa bình hôm nay. Những hi sinh của mẹ đã vun đắp nên sự bình yên mà con cháu quê hương đang được hưởng. Mỗi câu chuyện của các mẹ nhắc chúng ta nhớ rằng: để có bầu trời xanh yên bình, để có tiếng trẻ thơ ríu rít, đã có biết bao người mẹ tiễn con đi mà không thể đón về. Cúi đầu trước hai mẹ, chúng ta càng thấm thía giá trị của hòa bình, càng thấy rõ trách nhiệm giữ gìn và tiếp nối truyền thống anh hùng của quê hương Hưng Nguyên nói riêng, của quê hương, đất nước nói chung. Khi nhìn vào hai mẹ, ta hiểu rằng chiến tranh không chỉ đo bằng tiếng súng - nó còn đo bằng trái tim và nước mắt của những người mẹ tiễn con đi mà không có ngày đón con trở về.
Hai mẹ là chứng nhân của một thời hoa lửa – một thời vàng son, rực rỡ, chói lọi của dân tộc nhưng cũng đánh đổi bằng những mất mát, đau thương.Và câu chuyện của hai mẹ… sẽ còn được kể mãi đến những thế hệ trẻ mai sau.



