Bài viết

Câu chuyện về Nguyễn Trãi và sự ra đời của "Bình Ngô Đại Cáo"

Hưng Yên25/12/2025Trường THPT Mỹ Hào (Trường THPT Mỹ Hào)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện về Nguyễn Trãi

và sự ra đời của "Bình Ngô Đại Cáo"

Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, với biết bao trang sử vàng chói lọi. Thế nhưng, có lẽ chưa bao giờ tinh thần tự tôn dân tộc và tư tưởng nhân nghĩa lại được kết tinh mạnh mẽ như trong thế kỷ XV – thời đại của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đứng sau những chiến công hiển hách ấy là bóng dáng của một bậc vĩ nhân, một nhà văn hóa kiệt xuất: Nguyễn Trãi. Hành trình từ nỗi đau mất nước bên ải Nam Quan đến đêm dài thao thức chấp bút viết nên "Bình Ngô Đại Cáo" không chỉ là câu chuyện về một cá nhân, mà là bản hùng ca về ý chí độc lập tự cường của cả một dân tộc.


Câu chuyện bắt đầu vào năm 1407, khi nhà Hồ sụp đổ đã bị quân Minh xâm lược.Quân Minh không chỉ chiếm đóng lãnh thổ mà còn thực hiện chính sách cai trị vô cùng tàn bạo. Chúng bóc lột nhân dân bằng sưu cao thuế nặng, bắt dân ta đi phu, đi lính, cướp ruộng đất, phá hoại làng mạc và giết hại những người vô tội. Nhiều giá trị văn hóa bị hủy hoại, sách vở bị đốt phá, khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Trước cảnh nước mất nhà tan, lòng căm phẫn của nhân dân ngày càng dâng cao.
Trong hoàn cảnh đó, năm 1418, hào kiệt Lê Lợi đã dựng cờ khởi nghĩa tại vùng Lam Sơn (Thanh Hóa) với mong muốn đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập cho dân tộc. Những ngày đầu khởi nghĩa vô cùng gian nan: nghĩa quân ít người, thiếu lương thực, vũ khí thô sơ, nhiều lần bị quân Minh bao vây, truy đuổi. Có lúc nghĩa quân phải rút vào rừng sâu, chịu đói rét, bệnh tật và hi sinh lớn. Tuy nhiên, với ý chí kiên cường và niềm tin vào chính nghĩa, cuộc khởi nghĩa vẫn được duy trì.
Giữa lúc đó, Nguyễn Trãi được biết đến là một trí thức lớn, người có học vấn uyên thâm và tấm lòng yêu nước sâu sắc. Thế nhưng sau khi thành Đông Quan thất thủ và cha là Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Tàu, Nguyễn Trãi cùng em trai lên đường đi theo hầu hạ cha. Thế nhưng, khi đến ải Nam Quan, giữa ranh giới nghìn trùng của hai nước, Nguyễn Phi Khanh đã ngăn con lại và bảo:

- "Con là người có đức có tài, hãy trở về báo thù cho cha, rửa nhục cho nước, đó mới là đại hiếu".

Lời dặn dò trong nước mắt ấy đã trở thành kim chỉ nam, định hình toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của vị anh hùng dân tộc sau này. Sau khi thoát khỏi sự giam lỏng của quân Minh tại Đông Quan, Nguyễn Trãi không chọn cuộc sống ẩn dật mà quyết chí tìm về Lam Sơn theo Lê Lợi, theo tiếng gọi của nghĩa quân.


Vào khoảng năm 1423, nghĩa quân vừa trải qua những năm tháng chiến đấu gian khổ ở vùng núi Chí Linh, lực lượng mỏng, lương thực cạn kiệt, có lúc phải ăn củ mài, giết cả ngựa chiến để duy trì sự sống.Quân Minh thì đang tập trung binh lực cực lớn dưới sự chỉ huy của Trần Trí để quét sạch căn cứ Lam Sơn. Lê Lợi lúc này đang tạm đóng quân tại sách Ba Lẫm thuộc vùng núi Lỗi Giang. Nguyễn Trãi đã phải một mình băng qua các vùng kiểm soát dày đặc của địch, vượt đường núi hiểm để đến được Lỗi Giang gặp Lê Lợi. Tại Lỗi Giang, giữa rừng núi hiểm trở, bên ánh đuốc bập bùng Nguyễn Trãi đã dâng bản Bình Ngô sách – chiến lược đánh vào lòng người. Ông nói với Lê Lợi:

- "Thưa chúa công, đánh thành là hạ sách, đánh vào lòng người mới là thượng sách. Quân minh tàn bạo, lòng dân oán hận tận xương tủy. Ta lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo, ắt sẽ thành công."

Ông khẳng định:

- "Đánh thành là bậc thấp, đánh vào lòng người mới là bậc cao".

Ông nói muốn thắng giặc Minh thì phải dựa vào dân, lấy nhân nghĩa để quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Bản sách này đã vạch ra con đường từ một đội quân du kích nhỏ bé trở thành một đạo quân giải phóng dân tộc hùng mạnh.Lê Lợi nắm chặt tay ông, ánh mắt rạng ngời:

- "Ta có tiên sinh, như cá gặp nước, như rồng gặp mây!".
Sự xuất hiện của Nguyễn Trãi tại Lỗi Giang đúng lúc gian khó nhất đã tiếp thêm "luồng sinh khí" mới cho Lê Lợi.Vị chủ soái Lam Sơn nhận ra đây chính là người quân sư mà mình đang tìm kiếm. Ông lập tức phong cho Nguyễn Trãi chức danh quan trọng, cho phép tham gia mọi cuộc bàn bạc quân sự tối mật.Từ đó, Nguyễn Trãi trở thành người bạn chiến hữu, người thảo ra những bức thư dụ hàng đanh thép khiến quân thù khiếp vía.

Năm 1427, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bước vào giai đoạn quyết định. Khi viện binh nhà Minh do Liễu Thăng chỉ đạo ồ ạt tiến sang, Nguyễn Trãi đã cùng Lê Lợi bàn mưu tính kế, nhử địch vào trận địa mai phục tại Chi Lăng.Khi tin thắng trận dồn dập báo về, Liễu Thăng tử trận, quân Minh tan rã hoàn toàn, Nguyễn Trãi đứng trên cao nhìn xuống chiến trường, lòng trào dâng xúc động. Ông hiểu rằng, giờ khắc của tự do đã điểm. Lê Lợi triệu kiến ông vào trướng và ra lệnh:

- "Giặc đã tan, giang sơn đã sạch bóng thù. Tiên sinh hãy thay ta viết một bản cáo văn, để bố cáo cho thiên hạ biết về chiến thắng vĩ đại này, cũng là để khẳng định nền độc lập muôn đời của nước Việt ta."
Nguyễn Trãi cúi đầu nhận mệnh, đôi mắt ông rực sáng:

- "Thần xin đem hết tâm sức, để từng chữ, từng câu đều là tiếng lòng của non sông."

Trở về thư phòng, Nguyễn Trãi không ngủ. Giữa không gian tĩnh lặng của đêm cuối năm, ông mài mực, trải giấy. Những ký ức về mười năm gian khổ ùa về: là những lần ăn củ mài, rau rừng, là nỗi đau nhìn dân lành bị giặc "nướng trên ngọn lửa hung tàn". Ông đặt bút viết những dòng đầu tiên, khẳng định một chân lý vĩnh cửu: "Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác..." Càng viết, hào khí càng dâng cao. Khi viết đến đoạn kể tội ác quân thù, ngòi bút ông run lên vì căm giận: "Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội; Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi". Nhưng rồi, giọng văn chuyển sang hào hùng, sảng khoái khi miêu tả cảnh quân ta phản công: "Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông".
Khi ánh bình minh đầu tiên của năm mới 1428 ló rạng, cũng là lúc ông đặt dấu chấm cuối cùng cho bản đại cáo. Ông tự nhủ: "Máu của bao người đã đổ để có được những dòng chữ này." Ngày mồng 17 tháng Chạp năm Đinh Mùi (đầu năm 1428), trước toàn thể quân dân, bản Bình Ngô Đại Cáo chính thức được vang lên. Giọng đọc hào sảng, vang vọng khắp kinh thành.Khi đến đoạn kết:

-"Xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới... Muôn thuở nền thái bình vững chắc!"
Hàng vạn quân sĩ và nhân dân đồng thanh hô vang "Vạn tuế!". Người ta thấy Nguyễn Trãi đứng bên cạnh đức vua, gương mặt ông thanh thản nhưng đôi mắt rưng rưng. Bản cáo trạng đanh thép ấy không chỉ là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, mà còn là lời thề ước về một triều đại lấy dân làm gốc, lấy nhân nghĩa làm đầu. Có thể nói, Bình Ngô Đại Cáo không chỉ là một văn bản hành chính bố cáo thiên hạ, mà đã trở thành linh hồn, là "thiên cổ hùng văn" kết tinh trọn vẹn ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam thế kỷ XV. Qua ngòi bút thiên tài của Nguyễn Trãi, tác phẩm đã xây dựng một tượng đài bất hủ về lòng yêu nước, nơi tư tưởng nhân nghĩa không còn là lý thuyết suông mà hòa quyện chặt chẽ với tinh thần độc lập tự cường và lòng tôn trọng nhân dân. Từng câu chữ hào hùng như còn vang vọng âm hưởng của những chiến công oanh liệt, đồng thời tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn cao cả khi khép lại chiến tranh bằng niềm khao khát hòa bình vĩnh cửu. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, bản đại cáo vẫn vẹn nguyên giá trị, là lời nhắc nhở đanh thép về chủ quyền và là niềm tự hào kiêu hãnh của mỗi người con đất Việt về một tầm vóc văn hóa dân tộc rực rỡ, nhân văn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn