Câu chuyện về những chiếc gậy hành quân khắc chữ và lời hẹn ước "Đại hồng"

Chiếc gậy tre – Người bạn đường của lính đầu trọc
Đối với những người lính Tây Tiến, việc phải đi bộ ròng rã hàng ngàn cây số, trèo qua những con dốc dựng đứng, trơn trượt của vùng Tây Bắc trong tình trạng cơ thể suy kiệt vì sốt rét là một thử thách cực hạn. Để không bị ngã xuống vực sâu, mỗi chiến sĩ khi bước vào rừng già đều phải tự chặt cho mình một khúc tre hoặc trúc già để làm gậy hành quân.
Chiếc gậy ấy đối với họ không chỉ là cái chân thứ ba giúp nâng đỡ cơ thể gầy rộc, xanh xao, mà còn trở thành nơi gửi gắm tâm tình, thành tờ nhật ký di động của lính trí thức Hà thành.
Các chiến sĩ thường dùng lưỡi lê, dao găm khéo léo khắc lên thân gậy những dòng chữ rất nắn nót. Người thì khắc tên người yêu, người thì khắc quê quán phố cổ (Hàng Đào, Hàng Khay, phố Bưởi…), người lại khắc những mục tiêu hành quân như: "Sài Khao", "Mường Lát", "Pha Luông"… để làm động lực vượt đèo.
Lời hẹn ước "Đại hồng" trên đỉnh đèo
Vào cuối năm 1947, tại một chặng dừng chân trên đỉnh dốc vắt vẻo sương mù, ba chiến sĩ thuộc tiểu đội "không mọc tóc" gồm có Tuấn, Lâm và Kha ngồi tựa lưng vào nhau, thở dốc vì vừa trải qua một cơn sốt run người. Cả ba cậu học sinh trường Bưởi năm nào giờ đều đầu trọc lốc, da xanh mướt như màu lá rừng.
Tuấn nhìn chiếc gậy tre của mình, rồi nảy ra ý kiến: "Anh em mình sống chết có nhau ở đây. Thầy bói bảo đầu trọc là tướng đại hồng phát, hay là tụi mình cùng khắc hai chữ 'Đại Hồng' lên gậy, hẹn ngày chiến thắng trở về Thủ đô, đứa nào còn sống sẽ cầm chiếc gậy này đến rủ đứa kia đi uống cà phê bờ Hồ!"
Thế là, dưới ánh nắng hiếm hoi xuyên qua vòm lá rậm, ba chàng trai dùng mũi dao găm hí hoáy khắc sâu hai chữ "Đại Hồng" lên chiếc gậy của mình. Chữ khắc xong, họ còn lấy máu từ vết xước ở tay quệt lên cho nổi sắc đỏ, cười vang cả một góc rừng như thể gian khổ ngoài kia chẳng là gì.
Chiếc gậy trở về Thủ đô
Chiến trường miền Tây những tháng sau đó khốc liệt như một cối xay thịt. Lâm hy sinh trong một trận phục kích bên bờ suối. Kha bị một trận sốt rét ác tính mang đi ngay trên võng dã chiến khi chưa kịp nhìn thấy ánh mặt trời Sầm Nưa. Trước khi nhắm mắt, Kha chỉ kịp trao lại chiếc gậy khắc chữ "Đại Hồng" cho Tuấn và thều thào: "Nhớ... về Hà Nội... uống cà phê hộ mình...".
Tuấn là người duy nhất trong bộ ba sống sót qua mùa hoa lửa ấy. Anh buộc chặt hai chiếc gậy của Lâm và Kha vào ba lô của mình, một tay chống chiếc gậy của bản thân, một mình gánh theo linh hồn và ước mơ của hai người bạn vượt qua hàng trăm trận đánh. Chiếc gậy của Tuấn mòn vẹt đi một góc, những chữ khắc trên thân gậy nhẵn thín vì mồ hôi tay qua năm tháng.
Năm 1954, ngày đoàn quân chiến thắng tiến về tiếp quản Thủ đô, giữa rừng cờ hoa rực rỡ và tiếng hò reo của người dân Hà Nội, có một người lính Tây Tiến đầu đã mọc tóc xanh, một bên chân bước đi tập tễnh vì vết thương. Anh không đi một mình. Trên tay anh cầm ba chiếc gậy tre sạm màu khói súng, trên thân gậy vẫn vẹn nguyên hai chữ "Đại Hồng" khắc bằng lưỡi lê năm nào.
Tuấn đi thẳng ra một quán cà phê quen thuộc bên bờ hồ Hoàn Kiếm, đặt ba chiếc gậy lên ba chiếc ghế trống, gọi ba ly cà phê đen nóng. Anh ngồi lặng yên nhìn làn khói thuốc bay lên, hoàn thành lời thề thanh xuân của những người lính Tây Tiến "không mọc tóc" – những người đã gửi lại tuổi trẻ của mình nơi đại ngàn để giữ cho Hà Nội mãi mãi bình yên.



