CÂU CHUYỆN VỀ ÔNG ĐỖ XUÂN TỨ (P1)
Ông Đỗ Xuân Tứ và gia đình sinh sống tại Thái Nguyên, quê gốc ở Hải Hưng, trưởng thành trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Từ khi còn rất trẻ, ông đã sớm chọn cho mình một con đường sống có lý tưởng. Ông vào Đảng từ năm 21 tuổi. Trước khi nhập ngũ, ông là lãnh đạo dân quân tự vệ của tiểu khu. Theo diện lúc bấy giờ, ông được miễn đi bộ đội. Nhưng khi đơn vị cần người, ông đã xung phong đi thay cho một người khác. Chỉ riêng quyết định ấy cũng đủ cho thấy ông là ngườ
Ông Đỗ Xuân Tứ và gia đình sinh sống tại Thái Nguyên, quê gốc ở Hải Hưng, trưởng thành trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Từ khi còn rất trẻ, ông đã sớm chọn cho mình một con đường sống có lý tưởng. Ông vào Đảng từ năm 21 tuổi. Trước khi nhập ngũ, ông là lãnh đạo dân quân tự vệ của tiểu khu. Theo diện lúc bấy giờ, ông được miễn đi bộ đội. Nhưng khi đơn vị cần người, ông đã xung phong đi thay cho một người khác. Chỉ riêng quyết định ấy cũng đủ cho thấy ông là người không chọn phần an toàn cho mình. Ông tự nguyện bước vào chiến tranh, tự nhận lấy phần hiểm nguy, như một lựa chọn rất rõ ràng của một con người đặt trách nhiệm lên trên bản thân.
Ông lập gia đình với bà Vũ Thị Dẻo và có ba người con. Năm 1968, khi ông vào Nam chiến đấu, gia đình nhỏ của ông còn rất trẻ. Người vợ ở lại ngoài Bắc với ba con thơ và gia đình nội. Khi ấy, con gái lớn mới 5 tuổi, người con thứ hai mới 3 tuổi, còn người con út mới chỉ 27 ngày tuổi. Đó là lúc một người chồng rời nhà, một người cha rời con khi con còn chưa kịp hiểu cha là ai. Từ ngày ấy, căn nhà thiếu đi một người đàn ông, còn bà Vũ Thị Dẻo bước vào những năm tháng dài vừa nuôi con, vừa chăm lo gia đình, vừa chờ đợi trong thấp thỏm.
Đến năm 1972, gia đình nhận giấy báo tử. Tờ giấy ấy chỉ báo rằng ông Đỗ Xuân Tứ đã hy sinh ở chiến trường miền Nam. Ngoài dòng tin ấy ra, gần như không có thêm điều gì rõ ràng. Không ai nói ông hy sinh ở đâu. Không ai nói trong hoàn cảnh nào. Không ai trở về kể cho vợ con ông biết những ngày cuối cùng của ông đã diễn ra ra sao. Suốt rất nhiều năm, trong lòng gia đình, ông hiện lên như một nỗi đau có thật nhưng mờ xa. Ông không phải là một người vô danh, bởi ông đã được công nhận là liệt sĩ từ năm 1970. Nhưng đối với bà Vũ Thị Dẻo và các con, ông vẫn là một người nằm lại ở đâu đó giữa miền Nam rộng lớn, trong một câu chuyện không ai trong nhà biết trọn vẹn.
Bà Vũ Thị Dẻo không biết gì về Núi Dài, không biết gì về An Giang, không biết gì về hang Ma Thiên Lãnh. Bà không biết chồng mình đã bám trụ trên đỉnh núi nào, đã chiến đấu trong hang đá nào, đã cùng những ai trải qua buổi sáng cuối cùng của cuộc đời. Những đứa con của ông cũng lớn lên trong khoảng trống ấy. Họ biết cha mình là liệt sĩ. Họ biết ông đã hy sinh vì đất nước. Nhưng họ không biết ông đã sống ra sao trong những ngày cuối, đã ngã xuống như thế nào, và nằm lại ở đâu. Cả gia đình sống cùng sự chờ đợi, rồi day dứt, rồi một nỗi thương nhớ kéo dài qua năm tháng mà không có câu trả lời.
Mãi đến nhiều chục năm sau, khi các con ông kiên trì đi tìm những người từng biết cha mình, họ mới lần được đến ông Nguyễn Đình Chi, một người đồng đội cũ. Từ đó, câu chuyện bị chôn kín suốt mấy chục năm mới dần hiện ra. Gia đình ông mới biết rằng ông Đỗ Xuân Tứ là trung đội trưởng thuộc Đại đội 8, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 61C, chiến đấu trên đỉnh Ma Thiên Lãnh của Núi Dài, An Giang. Những chi tiết mà vợ con ông không hề biết suốt bao năm trời, từ đó mới lần lượt hiện lên, như thể một cánh cửa đá đã bị khép kín quá lâu cuối cùng cũng được hé mở.
Qua lời kể của đồng đội, gia đình mới hiểu nơi ông chiến đấu hiểm trở đến mức nào. Núi Dài là một trong những ngọn núi hiểm trở nhất vùng Bảy Núi của An Giang. Muốn lên tới khu vực hang Ma Thiên Lãnh ngày ấy không hề dễ. Phải leo lên tận đỉnh núi, bám vào cây, bám vào đá, lần từng bước giữa địa hình dựng đứng mới vào được khu hang đá. Trên đỉnh núi có nhiều hang đá nhỏ, bộ đội gọi là gộp. Hang Ma Thiên Lãnh rất nhỏ, chỉ rộng chừng một chiếc giường đôi. Nhưng đó không phải chỗ trú để ngủ nghỉ bình thường. Đó là vị trí để ẩn náu, để phòng tránh khi địch càn quét, để bám trụ, để quan sát và khi cần thì từ đó đánh trả quân địch. Giữa địa hình hiểm trở như vậy, một khoảng đá nhỏ cũng có thể là lá chắn cuối cùng của cả một tổ quân.
Ông Đỗ Xuân Tứ cùng đồng đội bám trụ ở nơi ấy. Ban ngày, địch kiểm soát gắt gao. Ban đêm, bộ đội ta mới tranh thủ hoạt động. Cứ đêm xuống, đơn vị của ông lại ra ngoài, đi bộ qua kênh Vĩnh Tế, men sang phía biên giới Campuchia để lấy lương thực mang về cho đồng đội. Đó là những đêm đi trong bóng tối, trong im lặng, trong căng thẳng tột độ, giữa một vùng núi đá mà mạng sống có thể mất đi chỉ vì một tiếng động nhỏ, một ánh sáng nhỏ hay một sơ suất rất nhỏ.
Rồi buổi sáng định mệnh ấy đến, buổi sáng ngày 21 tháng 9 năm 1970. Theo lời kể của ông Nguyễn Đình Chi, hôm đó cũng như bao ngày khác trong đời lính của ông Tứ. Sau một đêm hoàn thành việc mang lương thực về cho đồng đội, trời còn rất sớm, còn chưa nhìn rõ mặt người. Trung đội lúc ấy có tám người. Vừa trở về sau một đêm hành quân, anh em còn ngồi ngoài cửa hang. Không ai có thể ngờ rằng chỉ ít phút nữa thôi, cả cuộc đời họ sẽ bị chôn vùi dưới đá.
Có một đồng đội của ông Tứ mang súng ra lau chùi. Vì sơ suất, khẩu súng ấy không gập lưỡi lê xuống. Ở bên phía Núi Cấm, địch đang đóng quân. Vì đều là các đỉnh núi nên dù cách nhau vài cây số, chúng vẫn có thể quan sát sang rất rõ. Bằng ống nhòm, chúng phát hiện ra ánh phản chiếu rất nhỏ từ lưỡi lê. Chỉ một ánh lóe lên trong buổi sớm. Chỉ một tia sáng rất nhỏ. Nhưng ở chiến tranh, có những khoảnh khắc nhỏ đến mức người ta không kịp nhận ra đó là định mệnh, vậy mà chính nó lại mở ra tai họa.
Ngay sau khi phát hiện ánh sáng ấy, địch báo về cấp trên. Hôm đó, theo lời kể lại, chúng dùng một loại bom đặc biệt đưa sang chiến trường Đông Dương để thử nghiệm. Mục tiêu của chúng là hang Ma Thiên Lãnh. Cấu tạo địa hình của hang rất đặc biệt. Trước cửa hang có một mỏm đá nhô ra, trông như lưỡi trai của chiếc mũ. Quả bom không lao thẳng vào lòng hang trước, mà đánh trúng vào chính cái mỏm đá ấy. Và cú đánh đó làm cả phần hang phía trước sụp xuống.
Khi nghe tiếng động cơ ầm lên từ phía Núi Cấm, bảy đồng đội của ông Tứ, trong đó có ông, đã kịp rút vào trong hang. Chỉ có một chiến sĩ, chính là người lau súng, chạy ra phía ngoài nên không kịp vào hang. Và cũng chính người ấy là người còn sống để kể lại chi tiết quả bom hôm đó đã đánh sập hang Ma Thiên Lãnh như thế nào. Còn ông Đỗ Xuân Tứ và sáu người khác bị vùi dưới đá.
Điều đau đớn nhất là họ không chết ngay. Sau tiếng nổ, hang không còn là hang nữa. Nó bị đánh sập, bị san phẳng. Đá lớn, đá nhỏ đổ xuống, lấp kín, chôn sống bảy con người ở bên trong. Đồng đội của ông ở gộp 16, ở lưng chừng núi, nghe tiếng bom đã biết có chuyện chẳng lành. Nhưng đến tối ngày 21, khi họ nghe thấy tiếng rên vọng ra từ dưới đống đá, họ mới hiểu rằng ông Tứ và đồng đội vẫn còn sống, còn sống dưới một cái hang đã sập, còn sống trong bóng tối đặc kín, còn sống giữa đá đè, đất lấp và không khí cạn dần.
Hai ngày sau, ông Nguyễn Hữu Tài và ông Nguyễn Đình Chi lần lên chỗ hang đá sập, đứng trên đống đổ nát mà gọi xuống. Ông Tài gọi: “Tứ ơi, mày có làm sao không?” Ông Chi gọi: “Anh Tứ ơi, anh có đau ở đâu không?” Và từ dưới đống đá, ông Đỗ Xuân Tứ trả lời. Ông nói ông không đau, nhưng rất khó thở, hình như có hòn đá chèn ngang bụng. Khi được hỏi cạnh mình có ai không, ông nói cạnh ông có Tuấn còi. Chỉ mấy câu ngắn ngủi ấy thôi, nhưng đủ để người ở lại mang theo ám ảnh suốt đời. Một người đàn ông rời nhà khi con còn đỏ hỏn, một người được miễn mà vẫn xung phong ra trận, một trung đội trưởng chiến đấu trên đỉnh núi, đến lúc cái chết đã ở ngay trên người mình vẫn giữ được sự bình tĩnh đến đau lòng.
Đồng đội của ông đã tìm mọi cách cứu người, nhưng chiến tranh không cho họ cơ hội. Ban ngày, địch đưa rất nhiều xe đi tuần quanh hang, tìm cách bắt sống bộ đội. Lúc đó đơn vị lại nhận được tin có người chiêu hồi, khai ra tên những chiến sĩ đang chiến đấu trên hang. Tình thế càng ngặt nghèo hơn. Nếu liều lĩnh cứu người giữa ban ngày, có thể những người còn sống bên ngoài cũng sẽ bị quét sạch. Ban đêm, đồng đội của ông lén lên khu vực hang Ma Thiên Lãnh, dùng dây chuyền huyết thanh đổ nước xuống. Không ai biết nước có lọt tới được chỗ ông Tứ và các đồng đội không. Không ai biết các ông có nhận được không. Nhưng đó là tất cả những gì người bên ngoài còn có thể làm cho người bên trong.



