Câu chuyện về ông ngoại– Kiều Văn Đạt
Câu chuyện về ông ngoại– Kiều Văn Đạt (phần 1)

Ngày nghỉ lễ hay được nghỉ hè tôi có nhiều thời gian về thăm quê ngoại ở Bến Tre. Tôi luôn háo hức chạy lại bên ông ngoại, ngồi sát cạnh chiếc chõng tre cũ kỹ để nghe ông kể chuyện. Giọng ông trầm ấm, chậm rãi, nhưng mỗi lời kể đều như đưa tôi trở về một thời khói lửa mà ông đã đi qua.
Ông từng là bộ đội tham gia kháng chiến chống thực dân Mỹ tại Bến Tre vào năm 1965 – một vùng đất nổi tiếng với tinh thần Đồng khởi mạnh mẽ. Khi ấy, chiến tranh ngày càng ác liệt, quân và dân Bến Tre đã đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị để chống lại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ. Ông kể rằng không chỉ bộ đội mà cả người dân – từ cụ già đến thanh niên, phụ nữ – đều trở thành một phần của cuộc chiến.
Ông ngoại tôi là lính bộ đội địa phương, cùng với lực lượng du kích xã bám trụ từng tấc đất quê hương. Họ chiến đấu bằng “ba mũi giáp công”: quân sự, chính trị và binh vận. Những trận đánh không phải lúc nào cũng lớn, nhưng đầy mưu trí và gan dạ. Có khi là những trận phục kích trong rừng dừa, khi là những đêm bí mật tiếp cận đồn địch, đánh nhanh rồi rút gọn. Ông kể có lần đơn vị ông phải nằm phục suốt nhiều giờ trong bùn lầy, muỗi vắt bám đầy người, chỉ chờ đúng thời cơ để nổ súng. Khi chiến đấu, họ không chỉ dựa vào súng đạn mà còn vào lòng dân: người dân che chở, tiếp tế, dẫn đường, thậm chí đánh lạc hướng địch bằng những cách rất thông minh.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đặc biệt, ông hay kể về những cuộc đấu tranh chính trị ngay giữa lòng địch, khi nhân dân xuống đường phản đối, kết hợp với hoạt động binh vận để làm lung lay tinh thần đối phương. Ông nói: “Đánh giặc không chỉ bằng súng, mà còn bằng ý chí và lòng tin.” Trong những câu chuyện ấy, tôi luôn cảm nhận được sự kiên cường, gan dạ nhưng cũng đầy nhân văn của những con người bình dị.
Những đêm hè, tôi nằm nghe ông kể mà tưởng tượng ra cả một thời kỳ hào hùng của dân tộc. Với tôi, ông không chỉ là người ông hiền hậu, mà còn là một người lính anh dũng.
Thế nhưng, năm 2025, ông đã ra đi vì bệnh. Từ đó, không còn ai kể cho tôi nghe những câu chuyện chiến tranh nữa. Mỗi lần về quê, ngồi lại chỗ cũ, tôi vẫn thấy thiếu vắng giọng kể trầm ấm ấy. Nhưng những câu chuyện ông để lại vẫn sống mãi trong tôi – như một phần ký ức, một niềm tự hào, và cũng là lời nhắc nhở về quá khứ hào hùng của dân tộc và về người ông mà tôi luôn kính yêu.



