Câu chuyện về Tô Vĩnh Diện
Đại tá Đinh Thị Vân (tên thật là Đinh Thị Mậu) sinh năm 1916 tại làng Đông An, xã Xuân Thành, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Xuất thân trong một gia đình Nho học yêu nước, bà sớm giác ngộ cách mạng và tích cực hoạt động từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, bà được cấp trên giao một trọng trách vô cùng nguy hiểm: bí mật vào miền Nam, xâm nhập ngay giữa Sài Gòn để xây dựng một mạng lưới tình báo chiến lược. Với sự nhạy bén và mưu trí xuất chúng, người con gái Nam Định đã khéo léo tạo ra những vỏ bọc hoàn hảo, len lỏi và xây dựng thành công "Hệ thống tình báo Đinh Thị Vân" hoạt động vô cùng hiệu quả ngay trong lòng đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Lưới tình báo này đã cung cấp những tin tức vô giá, góp phần định hình chiến lược cho nhiều chiến thắng lịch sử của quân đội ta.
Làm tình báo đồng nghĩa với việc phải chấp nhận đi trên lưỡi dao và đối mặt với nỗi cô đơn cùng cực. Để bảo vệ vỏ bọc an toàn, bà buộc phải chịu đựng sự hiểu lầm, thậm chí là hàm oan từ chính xóm làng. Người thân và mẹ già ở Nam Định từng phải trải qua những năm tháng đau lòng khi bà bị địch tung tin giả nhằm đánh đòn tâm lý. Đó là một sự hy sinh thầm lặng mà ngôn từ khó lòng diễn tả hết.
Tháng 8 năm 1959, do một tên phản bội chỉ điểm, bà rơi vào tay địch. Sở mật vụ Sài Gòn đã dùng đến những nhục hình tàn khốc nhất để đối phó với bà. Chúng đánh đập dã man khiến các ngón tay bà sưng húp không thể cử động, đóng đinh bù loong, rồi dùng máy quay điện tra tấn đến mức bà ngất đi tỉnh lại vô số lần.
Dù thể xác bị vùi dập tơi bời, đối mặt với cái chết cận kề, ý chí của người nữ cộng sản vẫn không hề lay chuyển. Bà không hé lộ một nửa lời về tổ chức. Không thể bẻ gãy được khí tiết của bà, kẻ thù đành bất lực đưa bà đi đày qua nhiều nhà tù khét tiếng, nhưng ở đâu bà cũng trở thành hạt nhân lãnh đạo phong trào đấu tranh của chị em tù chính trị.
Với những chiến công lẫy lừng và sự hy sinh vĩ đại, bà Đinh Thị Vân trở thành người đầu tiên của ngành Tình báo Quốc phòng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1970. Nữ đại tá tình báo ấy đã để lại một di sản tinh thần bất diệt, trở thành niềm tự hào to lớn của quê hương Nam Định. Năm 1954, trong chiến dịch Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân ta phải kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn vượt qua núi cao, rừng rậm, đường dốc trơn trượt để đưa vào trận địa.
Tô Vĩnh Diện là một chiến sĩ pháo binh trẻ tuổi, tham gia nhiệm vụ vô cùng gian khổ này. Công việc kéo pháo rất nguy hiểm: chỉ cần sơ suất, khẩu pháo có thể tuột dốc, gây thiệt hại lớn và nguy hiểm đến tính mạng đồng đội.
Trong một lần kéo pháo lên dốc cao, dây tời bất ngờ bị đứt. Khẩu pháo nặng bắt đầu lao xuống dốc với tốc độ nhanh, đe dọa đè lên nhiều chiến sĩ phía dưới.
Trong khoảnh khắc cực kỳ nguy hiểm ấy, không kịp suy nghĩ nhiều, Tô Vĩnh Diện đã lao mình ra, lấy thân mình chèn vào bánh pháo để giữ lại.
Nhờ hành động dũng cảm đó, khẩu pháo đã dừng lại, bảo vệ được đồng đội và vũ khí. Nhưng anh đã hi sinh.
Ý nghĩa câu chuyện
Câu chuyện về Tô Vĩnh Diện khiến người ta xúc động và khâm phục bởi:
Tinh thần sẵn sàng hi sinh vì nhiệm vụ
Lòng dũng cảm, quyết đoán trong khoảnh khắc sinh tử
Ý chí đặt lợi ích của tập thể lên trên bản thân
Sự hi sinh của anh đã góp phần làm nên thắng lợi vang dội của chiến dịch Điện Biên Phủ – một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. "Những ngày cuối tháng 10, Quảng Trị bắt đầu vào mùa mưa, những trận mưa ào ạt khiến ruộng đồng chìm trong lũ, nước trên dòng Thạch Hãn dâng cao, đục ngầu chảy xiết. Những ngày mưa lớn như thế khiến nữ du kích Nguyễn Thị Thu (71 tuổi, xã Triệu Phong, Quảng Trị) nhớ về những ngày mưa dữ dội của hơn 50 năm trước. Ngày đó, từ trên trời không chỉ đổ nước mà còn trút cả bom, đạn, dưới mặt đất thì máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất thành cổ.
Mùa hè đỏ lửa năm 1972, bà Thu tròn 17 tuổi, tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Ở tuổi trăng tròn, bà gặp gỡ, nên duyên với ông Nguyễn Câu (cũng 17 tuổi), con trai ông Nguyễn Con - một ngư dân làm nghề cào hến trên sông Thạch Hãn. Cả hai chỉ mới làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp đám cưới thì trận chiến nổ ra. Ông Câu sau đó vào miền Nam, bà Thu ở lại cùng bố chồng giúp bộ đội vượt sông Thạch Hãn.
Lúc đó cả hai chúng tôi chưa tổ chức đám cưới, chỉ mới thăm hỏi nhưng cũng đã coi nhau như vợ chồng. Tôi tham gia lực lượng du kích địa phương, cùng bố chồng ở lại để phục vụ cách mạng, may thay hồi đó có chiếc đò làm phương tiện để đưa các chiến sĩ vượt sông, tiếp cận được thành cổ"", bà Thu nhớ lại.
Di chứng bom đạn khiến bà Thu bây giờ nhớ nhớ quên quên. Thế nhưng có những ký ức không bao giờ rời khỏi trí óc, tiếng người bị thương gọi mẹ, tiếng rên la thất thanh, và những chuyến đò đêm mà bà biết nhiều người đi nhưng ít ai trở về.
""Kể từ khi chiến dịch bắt đầu, con đò của tôi đưa hàng ngàn chiến sĩ qua sông. Họ còn trẻ lắm, 18 - 20 tuổi. Đa phần là sinh viên các trường đại học ngoài Hà Nội mới gác bút cầm súng. Điều day dứt nhất là tôi đưa họ đi… nhưng chẳng mấy ai trở lại"", bà Thu nghẹn ngào" "Những ngày cuối tháng 10, Quảng Trị bắt đầu vào mùa mưa, những trận mưa ào ạt khiến ruộng đồng chìm trong lũ, nước trên dòng Thạch Hãn dâng cao, đục ngầu chảy xiết. Những ngày mưa lớn như thế khiến nữ du kích Nguyễn Thị Thu (71 tuổi, xã Triệu Phong, Quảng Trị) nhớ về những ngày mưa dữ dội của hơn 50 năm trước. Ngày đó, từ trên trời không chỉ đổ nước mà còn trút cả bom, đạn, dưới mặt đất thì máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất thành cổ.
Mùa hè đỏ lửa năm 1972, bà Thu tròn 17 tuổi, tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Ở tuổi trăng tròn, bà gặp gỡ, nên duyên với ông Nguyễn Câu (cũng 17 tuổi), con trai ông Nguyễn Con - một ngư dân làm nghề cào hến trên sông Thạch Hãn. Cả hai chỉ mới làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp đám cưới thì trận chiến nổ ra. Ông Câu sau đó vào miền Nam, bà Thu ở lại cùng bố chồng giúp bộ đội vượt sông Thạch Hãn.
Lúc đó cả hai chúng tôi chưa tổ chức đám cưới, chỉ mới thăm hỏi nhưng cũng đã coi nhau như vợ chồng. Tôi tham gia lực lượng du kích địa phương, cùng bố chồng ở lại để phục vụ cách mạng, may thay hồi đó có chiếc đò làm phương tiện để đưa các chiến sĩ vượt sông, tiếp cận được thành cổ"", bà Thu nhớ lại.
Di chứng bom đạn khiến bà Thu bây giờ nhớ nhớ quên quên. Thế nhưng có những ký ức không bao giờ rời khỏi trí óc, tiếng người bị thương gọi mẹ, tiếng rên la thất thanh, và những chuyến đò đêm mà bà biết nhiều người đi nhưng ít ai trở về.
""Kể từ khi chiến dịch bắt đầu, con đò của tôi đưa hàng ngàn chiến sĩ qua sông. Họ còn trẻ lắm, 18 - 20 tuổi. Đa phần là sinh viên các trường đại học ngoài Hà Nội mới gác bút cầm súng. Điều day dứt nhất là tôi đưa họ đi… nhưng chẳng mấy ai trở lại"", bà Thu nghẹn ngào" "
“Lịch sử được viết bằng máu,
nếu lãng quên phải dùng máu để viết lại”
Lịch sử dân tộc Việt Nam là bản trường ca được viết nên bằng mồ hôi, nước mắt và máu xương của bao thế hệ cha anh. Trong dòng chảy hào hùng ấy, có những con người trở thành điểm tựa tinh thần cho cả dân tộc, để mỗi lần nhắc đến, lòng ta lại dâng trào niềm tự hào và biết ơn sâu sắc. Một trong những con người vĩ đại ấy chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp – nhà lãnh đạo quân sự kiệt xuất của cách mạng Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh là Võ Giáp, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã sớm dấn thân vào con đường cách mạng, tham gia phong trào học sinh, hoạt động báo chí và đấu tranh dân chủ. Dù từng bị thực dân Pháp bắt giam, tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng của ông vẫn không hề lay chuyển.
Năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trở về nước, ông tham gia xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Võ Nguyên Giáp giữ nhiều trọng trách quan trọng và trở thành vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1948. Dưới sự chỉ huy của ông, quân và dân ta đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng, tiêu biểu là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, vang dội năm châu, chấn động địa Ngày nay, trong hòa bình và độc lập, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc và biết ơn sâu sắc những cống hiến to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – biểu tượng sáng ngời của trí tuệ, bản lĩnh và lòng yêu nước Việt Nam. "Dáng người nhỏ nhắn, giọng nói trầm ấm và nụ cười hiền hậu của ông Chiến dường như không hề mang dấu vết của một thời đạn bom khói lửa. Tuy nhiên, ẩn sâu trong đôi mắt ông là cả một miền ký ức hào hùng về những năm tháng tuổi trẻ sôi nổi, khi ông và các đồng đội đã dâng hiến thanh xuân cho đất nước.
Ông Chiến là một trong những thành viên của ""Lớp Anh Trỗi 1"", Đội Thanh niên xung phong (TNXP) đặc biệt đầu tiên mang tên K53, được T.Ư Đoàn cử thẳng vào chiến trường miền Nam năm 1965.
Cuộc hành quân bộ ròng rã gần 2 tháng trời
Năm 1965, khi cuộc kháng chiến của quân và dân ta bước vào giai đoạn ác liệt nhất, tiếng gọi của Tổ quốc vang dội khắp các làng quê miền Bắc. Chàng trai trẻ Bùi Đình Chiến, cũng như bao thanh niên cùng thế hệ, mang trong mình nhiệt huyết sục sôi, mong muốn được cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, một rào cản nhỏ suýt nữa đã khiến ước mơ của ông phải dang dở. ""Khám đi bộ đội không được, vì tôi chỉ nặng có 39 cân thôi. Họ đuổi xuống khỏi bàn cân luôn"", ông cười nhớ lại.Thế nhưng, con đường đến với cách mạng của ông lại mở ra theo một cách khác, đặc biệt hơn. Chính Bí thư Đảng ủy xã đã đến tận nhà vận động, giới thiệu ông vào một đơn vị mới thành lập: Đội TNXP đặc biệt, quy tụ những thanh niên ưu tú, có lý lịch trong sạch và tinh thần giác ngộ cao. Thế là ông được tham gia ""Lớp Anh Trỗi 1"". Sau 2 tháng huấn luyện cấp tốc tại T.Ư Đoàn, ngày 16.8.1965, ông Chiến cùng hơn 300 đồng đội trong tiểu đoàn chính thức bước vào cuộc hành quân lịch sử tiến vào Nam.
Hành trình ấy không có xe cơ giới, không có những con đường bằng phẳng. Đó là một cuộc trường chinh đi bộ ròng rã gần 2 tháng trời. Để tránh những trận bom dữ dội của địch, đoàn quân thực hiện phương châm ""đêm đi ngày nghỉ"". Bóng đêm của núi rừng Trường Sơn trở thành người bạn đồng hành, che chở cho những bước chân không mỏi của họ. ""Đi đâu, qua địa bàn nào cũng không biết, chỉ nhớ những điểm nó hay đánh phá như mấy cái bến phà ở Thanh Hóa, ở Quảng Bình thôi"", ông hồi tưởng.
Máu, mồ hôi và nước mắt
Vượt sông Bến Hải, đến địa phận Quảng Trị, ông Chiến và đồng đội được biên chế vào phục vụ trên đường dây 559 huyền thoại - đường mòn Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ của họ rất khó khăn và nguy hiểm: vừa làm giao liên dẫn đường, vừa vận chuyển hàng hóa cho chiến trường. Họ cõng trên lưng những hòm đạn nặng trịch, những bao gạo, và cả những quả đạn B40. Lúc trở ra, những đôi vai ấy lại gánh trọng trách thiêng liêng hơn: cáng đồng đội bị thương từ mặt trận về tuyến sau.
Con đường họ đã đi không chỉ có dấu chân người mà còn thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt. Một trong những ký ức đau thương nhất mà ông Chiến không bao giờ quên là lần vượt sông Thạch Hãn. Nước lũ từ thượng nguồn đổ về cuồn cuộn, dữ dội. Họ phải căng một sợi dây thừng và lần lượt bám vào để bơi qua sông. Trong một chuyến đi định mệnh, sợi dây bị đứt, và người đồng đội tên Hưởng bị dòng nước lũ cuốn trôi. ""Đã hy sinh luôn. Chưa hề đánh nhau, chưa gì hết"", ông Chiến nghẹn ngào.Ông Bùi Đình Chiến và Hành trình cống hiến cho thế hệ trẻ hôm nay - Ảnh 2.
Ông Bùi Đình Chiến (bìa phải) cùng đồng đội thăm lại nơi từng chiến đấu ẢNH: NVCC
Năm 1967, trước tình hình chiến trường ngày càng khốc liệt và sự thiếu hụt quân số, đơn vị TNXP của ông được lệnh bổ sung thẳng vào lực lượng Quân giải phóng. Ông chính thức trở thành người lính của Trung đoàn 6, Quân khu Trị Thiên - đơn vị sau này được vinh danh là Trung đoàn Phú Xuân Anh hùng.
Ông đã tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 1968 suốt 26 ngày đêm tại Huế. Những năm tháng trong quân ngũ, ông và đồng đội phải đối mặt với nhiều gian khổ. ""Người rận, quần áo rận, rồi đầu thì chấy, rồi ghẻ lở hắc lào đầy thân"", ông kể. Họ sống và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn nhưng tinh thần thì chưa bao giờ nao núng. Ông Chiến đã được vinh danh trong bảng vàng ghi công do đã đóng góp nhiều thành tích xuất sắc vào truyền thống của trung đoàn.
Bản thân ông Chiến cũng nhiều lần đối mặt với tử thần, là một trong những người đầu tiên của đơn vị bị sốt rét ác tính. Cơn sốt quật ngã ông khi đang cõng 2 thùng đạn B40 nặng hơn 30 kg. ""Sốt lâu ngày rồi nhưng tôi vẫn cố đi"", ông kể. Ông ngất đi và bất tỉnh suốt 3 ngày liền. Các đồng đội đã thay nhau cáng ông cùng vũ khí, quân trang, vượt qua những đỉnh núi cao rét buốt để xuống núi chữa trị. ""Nếu hôm ấy tiểu đội trưởng mà không nhiệt tình, bảo nghỉ trên đỉnh cao là tôi không qua khỏi rồi"", ông bồi hồi nhớ lại.
Năm 1972, khi đang làm liên lạc cho trung đội trưởng hậu cần, một trận bom B-52 đã đánh sập căn hầm của ông Chiến. Một thanh gỗ lớn từ nóc hầm rơi xuống, đập thẳng vào đầu ông. ""Chảy máu nhiều lắm"", ông kể, nhưng ông đã nén đau để không bị đưa về tuyến sau, không được tiếp tục ở lại chiến đấu cùng anh em.
Trở về ""vác tù và hàng tổng""
Năm 1973, sau nhiều năm xa nhà, ông được về phép. Mẹ già thấy con trai đã lớn tuổi, cứ khóc và giục ông cưới vợ. Chiều lòng mẹ, ông kết hôn. Đám cưới diễn ra chóng vánh, và chỉ 12 ngày sau ông lên đường trở lại chiến trường. Đó là lần cuối cùng ông được gặp mẹ. Năm 1974, mẹ ông qua đời khi ông vẫn đang ở tiền tuyến.
Năm 1976, ông Bùi Đình Chiến xuất ngũ, trở về quê hương. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ông, tinh thần người lính vẫn vẹn nguyên. Không cho phép mình nghỉ ngơi, ông miệt mài cống hiến cho cộng đồng. Ông làm Bí thư chi bộ hơn 10 năm, kiêm cả xóm trưởng, rồi tham gia Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh, và hiện là Chủ tịch Hội Cựu TNXP của xã.
Khi có người hỏi tại sao ông tuổi cao mà vẫn cứ ""vác tù và hàng tổng"" mãi, ông cười hiền trả lời: ""Tôi ăn cơm Nhà nước từ năm 18 tuổi, đến giờ là bệnh binh, vẫn là ăn ""gạo"" của Nhà nước. Không vác tù và hàng tổng thì làm cái gì?"".
Câu nói mộc mạc ấy chứa đựng một triết lý sống sâu sắc: triết lý về sự cống hiến và trách nhiệm. Với ông, phục vụ nhân dân, phục vụ quê hương không phải là gánh nặng, mà là một niềm vinh dự, một cách để trả ơn đất nước. Hành trang tự hào của ông là hàng chục tấm huân, huy chương về một thời hoa lửa và bằng khen, giấy khen khi tham gia công việc thời bình, trong đó có Huân chương Kháng chiến hạng 3 do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước trao tặng. Chia sẻ với phóng viên Thanh Niên, ông Phạm Văn Toàn, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ VN xã, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Khánh Thiện, cho biết ông Bùi Đình Chiến là cán bộ hội nhiệt tình, trách nhiệm, luôn đi đầu trong mọi nhiệm vụ được giao. Ông Chiến đã được các cấp khen thưởng với nhiều bằng khen, giấy khen.
Cuộc đời ông Bùi Đình Chiến là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần phụng sự không bao giờ tắt" "Phạm Tuân là một trong những phi công xuất sắc của Không quân Nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh.
Năm 1972, trong bối cảnh cuộc chiến diễn ra ác liệt, đặc biệt là chiến dịch không kích quy mô lớn bằng máy bay B-52 của Mỹ, ông được giao một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm: đánh chặn loại máy bay ném bom chiến lược hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ.
Đêm xuất kích, điều kiện tác chiến vô cùng khó khăn. Bầu trời tối, hệ thống phòng thủ dày đặc, và đối phương có ưu thế vượt trội về công nghệ. Tuy nhiên, bằng kỹ năng, sự bình tĩnh và chiến thuật hợp lý, ông đã tiếp cận được mục tiêu.
Trong khoảnh khắc quyết định, ông phóng tên lửa và bắn hạ thành công một chiếc B-52. Đây là một chiến công đặc biệt quan trọng, góp phần vào thắng lợi chung và có ý nghĩa lớn về mặt tinh thần.
Sau chiến tranh, sự nghiệp của ông không dừng lại ở đó.
Năm 1980, Phạm Tuân trở thành người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ, tham gia chuyến bay cùng Liên Xô. Sự kiện này không chỉ là niềm tự hào của cá nhân ông mà còn là dấu mốc quan trọng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Điều đáng chú ý là, dù đạt được nhiều thành tựu lớn, ông vẫn luôn giữ lối sống giản dị và thái độ khiêm tốn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông tiếp tục cống hiến trong quân đội và sau này nghỉ hưu như một cựu chiến binh.
Câu chuyện về Phạm Tuân là một minh chứng rõ ràng cho hình ảnh người anh hùng dân tộc: không chỉ dũng cảm trong chiến đấu, mà còn bền bỉ cống hiến và sống giản dị trong thời bình" "Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu sinh năm 1931, là người dân tộc Tày, tỉnh Cao Bằng. Năm 1948, khi mới 17 tuổi, ông gia nhập Đại đội 671 và lập được nhiều thành tích trong chiến đấu.
Trong trận Đông Khê thuộc chiến dịch biên giới năm 1950, ông là chỉ huy tổ bộc phá làm nhiệm vụ phá hàng rào và đánh lô cốt đầu cầu. Khi bị địch bắn gãy nát một cánh tay, ông đã yêu cầu đồng đội chặt hộ cánh tay để khỏi vướng rồi lại tiếp tục ôm bộc phá xông lên, phá tan lô cốt đầu cầu, mở đường cho đơn vị xung phong tiêu diệt địch. Tấm gương của Anh hùng La Văn Cầu đã cổ vũ phong trào thi đua diệt giặc lập công trong toàn quân.
Năm 1952, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần I, ông vinh dự là một trong 7 chiến sĩ đầu tiên được phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân”. Ông còn được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Năm 1996, Đại tá La Văn Cầu nghỉ hưu, cư trú và sinh hoạt tại khu dân cư số 7, phường Quang Trung, quận Đống Đa. Trong quá trình sinh hoạt tại địa phương, ông luôn gương mẫu phát huy phẩm chất bộ đội Cụ Hồ. Năm 2019, ông vinh dự được trao tặng danh hiệu Công dân Thủ đô ưu tú."



