Câu chuyện về Vị Hoàng hậu cuối cùng Nam Phương
Hoàng hậu Nam Phương (1914 – 1963): Vị Hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, biểu tượng của sự quý phái, tri thức và có nhiều đóng góp cho các hoạt động từ thiện, xã hội.
Nguyễn Hữu Thị Lan sinh ra tại vùng đất Gò Công, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình Công giáo giàu có và quyền thế bậc nhất Nam Kỳ thời bấy giờ. Là con gái của đại phú hào Nguyễn Hữu Hào và là cháu ngoại của một trong bốn đại phú hộ giàu nhất Việt Nam lúc bấy giờ, từ năm 12 tuổi, bà đã được gia đình gửi sang Pháp du học tại trường nữ sinh danh tiếng Couvent des Oiseaux ở Paris. Tại kinh đô ánh sáng, bà không chỉ tiếp thu nền giáo dục phương Tây hiện đại, thông thạo tiếng Pháp mà còn nổi bật bởi vẻ đẹp thanh lịch, quý phái mang đậm cốt cách của người con gái Á Đông.
Bước ngoặt cuộc đời diễn ra vào năm 1932 khi bà trở về nước và tình cờ gặp gỡ hoàng đế trẻ Bảo Đại trong một buổi tiệc tại Đà Lạt. Sự kết hợp giữa học vấn uyên bác và nhan sắc kiêu sa của Nguyễn Hữu Thị Lan đã hoàn toàn chinh phục vị vua trẻ. Bất chấp sự phản đối từ thái hậu và triều đình Huế do bà là người theo đạo Công giáo, vua Bảo Đại vẫn kiên quyết cưới bà làm vợ. Tháng 3 năm 1934, đám cưới hoàng gia được tổ chức long trọng tại kinh thành Huế. Ngay sau hôn lễ, vua Bảo Đại đã phá bỏ các lệ luật cũ của triều Nguyễn, lập tức tấn phong bà làm Hoàng hậu với hiệu Nam Phương (nghĩa là hương thơm của phương Nam) và thực hiện lời hứa thực hiện chế độ một vợ một chồng – một đặc ân chưa từng có đối với các cung phi triều đại trước.
Trên cương vị Hoàng hậu, Nam Phương đã đem một luồng gió mới, hiện đại vào chốn cung đình cổ kính. Bà tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, khuyến khích việc học tập của phụ nữ, thành lập trường học và tài trợ cho các bệnh viện, viện mồ côi. Với sự am hiểu sâu sắc về văn hóa cả Đông lẫn Tây cùng khả năng giao tiếp tiếng Pháp hoàn hảo, bà đóng vai trò là một nhà ngoại giao xuất sắc của triều đình, thường xuyên cùng vua Bảo Đại tiếp đón các phái đoàn quốc tế, thể hiện hình ảnh một nước Việt Nam văn minh, tự chủ và thanh lịch trước bạn bè thế giới. Bà sinh cho vua Bảo Đại 5 người con (2 hoàng tử và 3 công chúa) và hết lòng dạy dỗ các con nếp sống gia giáo, khiêm nhường.
Tuy nhiên, bão giông lịch sử đã không buông tha cuộc đời vị Hoàng hậu cuối cùng. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, vua Bảo Đại thoái vị, vương triều Nguyễn chính thức sụp đổ. Trở thành một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bà Nam Phương đã thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc. Khi Chính phủ phát động "Tuần lễ Vàng" nhằm quyên góp ngân khố cho nền độc lập non trẻ của quốc gia, bà đã dũng cảm đem toàn bộ số trang sức và vàng ngọc quý giá của mình đến hiến tặng, đồng thời đứng ra kêu gọi đồng bào tham gia phụng sự Tổ quốc. Sau đó, khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, bà đã gửi một bức thông điệp đanh thép ra thế giới, vạch trần tội ác của quân viễn chinh và kêu gọi các nước tôn trọng độc lập của Việt Nam.
Những năm tháng cuối đời của bà Nam Phương khép lại trong sự cô đơn và tĩnh lặng. Khi tình hình chính trị biến động và cuộc hôn nhân với cựu hoàng Bảo Đại không còn hạnh phúc do sự phóng túng của ông, bà cùng các con quyết định sang Pháp định cư vào năm 1947. Bà chọn cuộc sống ẩn dật, thanh bình tại một trang trại nhỏ ở làng Chardignac (thuộc tỉnh Corrèze, miền Trung nước Pháp). Rời xa chốn lầu son gác tía, không còn hào quang vương quyền, bà sống những ngày tháng dung dị, chăm sóc vườn tược và nương nhờ cửa Phật, cửa Chúa để tìm kiếm sự an yên trong tâm hồn. Tháng 9 năm 1963, Hoàng hậu Nam Phương đột ngột tạ thế sau một cơn đau tim ở tuổi 49. Đám tang của bà diễn ra một cách lặng lẽ, đơn sơ tại một nghĩa trang địa phương nơi làng quê nước Pháp, không có sự xuất hiện của cựu hoàng Bảo Đại.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, hình ảnh Hoàng hậu Nam Phương vẫn luôn là một biểu tượng bất tử về cái đẹp vẹn toàn của người phụ nữ Việt Nam. Cuộc đời bà – từ đỉnh cao vinh hoa phú quý cho đến những năm tháng trầm lặng xứ người – là một bản nhạc buồn nhưng đầy kiêu hãnh của lịch sử. Hậu thế hôm nay vẫn luôn nhắc về bà với niềm ngưỡng mộ sâu sắc, không chỉ bởi một dung nhan "nghiêng nước nghiêng thành" mà chính là ở cốt cách thanh cao, tấm lòng nhân ái bao la và tình yêu son sắt hướng về quê hương Tổ quốc dọc theo những thăng trầm của thời đại.



