câu chuyện vết sẹo thời hoa lửa của ngoại
Ông ngoại tôi tên là Phạm Văn Nong, sinh năm 1948 – một người lính đã dành trọn những năm tháng tuổi hai mươi đẹp nhất cho độc lập của Tổ quốc.
Chiến tranh đã lùi sâu vào dĩ vãng, nhưng những dấu tích khốc liệt của nó vẫn còn hằn in rõ nét trên thân thể của người ông kính yêu của tôi . Ông ngoại tôi tên là Phạm Văn Nong, sinh năm 1948 – một người lính đã dành trọn những năm tháng tuổi hai mươi đẹp nhất cho độc lập của Tổ quốc. Trở về sau những trận đánh kiên cường giữa mưa bom bão đạn với danh hiệu thương binh, ông mang theo những vết thương trên da thịt như một chứng nhân thầm lặng của lịch sử. Lắng nghe câu chuyện “thời hoa lửa” qua giọng kể trầm ấm của ông, em càng thêm thấu hiểu và biết ơn sự hy sinh cao cả của thế hệ cha anh để đổi lấy nền hòa bình hôm nay.
Mỗi chiều nhìn ra khoảng sân ngập nắng nơi quê nhà Quảng Ngãi, tôi lại lặng lẽ ngắm nhìn dáng hình thân thương của ông ngoại bên hiên nhà. Mái tóc ông nay đã bạc trắng, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn của thời gian và năm tháng. Đôi chân ông, từng một thời băng rừng lội suối khắp các chiến trường miền Trung khốc liệt, giờ đây bước đi tập tễnh, khó nhọc theo từng nhịp nạng gỗ . Thời gian có thể phủ mờ vạn vật, nhưng dấu tích của chiến tranh vẫn in hằn nguyên vẹn trên cơ thể ông qua vết sẹo hõm sâu ở bắp chân trái – chứng tích của một thời hoa lửa khốc liệt..
Trong căn nhà nhỏ, ông ngoại tôi cất giữ một chiếc hộp nhung đỏ chứa không ít huân, huy chương lấp lánh màu kim loại. Đó là sự ghi nhận cho lòng quả cảm của một người thương binh đã dành trọn tuổi thanh xuân cho độc lập dân tộc. Với một sinh viên lớn lên giữa thời bình như tôi, đó là niềm vinh dự và tự hào vô bờ bến .Thế nhưng, mỗi lần tôi ngắm nhìn những tấm huy chương sáng lấp lánh ấy, ông chỉ nhẹ nhàng nhìn tôi và cất giọng nói đầy xúc động “Tấm huy chương này sáng không phải vì ánh kim loại, mà bởi nó mang linh hồn của những đồng đội đã ngã xuống,” giọng ông nghẹn lại khi nhớ về những người lính đã vĩnh viễn nằm lại nơi mảnh đất Quảng Ngãi nắng gió mà không kịp nhìn thấy ngày non sông nối liền một dải.. Đối với ông, đằng sau ánh kim loại lấp lánh không phải là sự phô trương chiến tích, mà là những năm tháng gian lao tột cùng, là sự đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt và cả một phần thân thể gửi lại nơi chiến trường.
Trong những câu chuyện ông kể tôi nghe vào những đêm trăng sáng, ám ảnh và xúc động nhất luôn là trận đánh ác liệt năm nào nơi chiến trường khói lửa. Giữa làn mưa bom bão đạn rít gầm xé toang bầu trời, ông cùng đồng đội kiên cường bám trụ từng tấc đất quê hương. Trong một đợt tấn công dữ dội của quân địch, một phát đạn cay nghiệt đã găm thẳng vào bắp chân ông, làm gãy lìa phần xương ống. Cơn đau buốt nhói chạy dọc sống lưng, xé toạc mọi cảm giác, máu từ vết thương tuôn xối xả nhuộm đỏ cả ống quần áo lính. Giữa khoảnh khắc sinh tử cận kề, khi địch tràn lên lùng sục, ông cắn chặt răng nén tiếng kêu đau đớn, dùng chút tàn lực cuối cùng để lăn mình xuống một mương nước cạn ven đường nhằm che mắt kẻ thù. Nằm thoi thóp dưới làn bùn lầy lạnh ngắt, hơi thở yếu ớt dần như ngọn đèn trước gió, xung quanh chỉ còn mùi khói thuốc súng khét lẹt và tiếng đạn rít chói tai. Ông kể, trong giây phút ý thức chập chờn giữa sự sống và cái chết, hình ảnh quê hương, gia đình và khát vọng nhìn thấy ngày đất nước thống nhất đã trở thành điểm tựa tinh thần duy nhất giúp ông giữ vững hơi thở.May mắn thay, khi trận đánh tạm lắng, đồng đội đã kịp thời phát hiện ra ông dưới mương nước, khẩn trương chuyển về trạm cấp cứu tiền phương để mổ dã chiến, giữ lại được tính mạng cho người chiến sĩ trẻ.
Chiến tranh khép lại, non sông thu về một mối, ông trở về với đời thường mang trên mình thương tật vĩnh viễn cùng tấm thẻ thương binh. Bắp chân bị bắn gãy năm xưa để lại một vết sẹo lớn hõm sâu, co rút, khiến việc đi lại của ông trở nên vô cùng khó khăn. Mỗi khi trái gió trở trời hay vào những ngày đông giá lạnh, vết thương cũ lại tấy buốt, nhức nhối tận trong tủy xương. Những lúc ấy, tôi thấy ông lặng lẽ ngồi xoa bóp đôi chân run rẩy, mồ hôi rịn ra trên trán nhưng chưa bao giờ ông buông một lời than vãn hay oán trách số phận.
Sự kiên cường của người lính Cụ Hồ dường như đã ăn sâu vào máu thịt, giúp ông vượt qua nỗi đau thể xác bằng một tâm thế bình thản và tràn đầy tinh thần lạc quan:Ông luôn dành trọn sự yêu thương, chở che và dạy bảo con cháu lối sống ngay thẳng, trung thực và nghĩa tình;Ông xem sự trở về của mình đã là một may mắn lớn, bởi biết bao đồng chí, đồng đội thân thiết của ông đã vĩnh viễn nằm lại nơi rừng sâu đất mẹ mà không kịp nhìn thấy ngày hòa bình.
Lắng nghe lời tự sự mộc mạc của ông, và tận mắt chứng kiến những vết thương ông phải gánh chịu ,tôi lặng người đi vì xúc động. Lần đầu tiên, tôi thấu hiểu sâu sắc rằng lịch sử không phải là những con số vô tri trên trang giấy, mà được viết nên từ máu, mồ hôi và cả tuổi thanh xuân dang dở của lớp lớp người đi trước. Những người lính ra trận năm ấy cũng ở độ tuổi mười tám, đôi mươi như chúng tôi bây giờ, cũng ôm ấp bao ước mơ, hoài bão và tình yêu đôi lứa. Thế nhưng, trước vận mệnh thiêng liêng của non sông, họ sẵn sàng gác lại tất cả, lấy thân mình làm lá chắn che chở cho bình yên của Tổ quốc. Chiến tranh đã qua đi, đất nước đã trọn niềm vui thống nhất, nhưng nỗi đau và ký ức vẫn còn hằn sâu trong tâm can những người trở về. Đứng trước kỷ vật và sự hy sinh cao cả ấy, thế hệ trẻ chúng tôi nhận ra rằng sự bình yên, tự do và những điều kiện đủ đầy nơi giảng đường hôm nay là món quà vô giá được đánh đổi bằng sự dâng hiến của biết bao thế hệ cha anh.
Đứng trước tấm gương sáng ngời của ông ngoại, tôi tự nhắc nhở bản thân:Lòng biết ơn không thể chỉ dừng lại ở những suy nghĩ cảm tính hay lời nói đầu môi, mà phải được chuyển hóa thành ý chí vươn lên trong học tập và rèn luyện. Thế hệ sinh viên hôm nay phải nuôi dưỡng lý tưởng sống cao đẹp, không ngại khó khăn thử thách, đem tri thức và nhiệt huyết xây dựng quê hương Quảng Ngãi ngày càng đổi mới. Luôn trân trọng quá khứ, gìn giữ và lan tỏa những ký ức hào hùng của dân tộc để ngọn lửa yêu nước không bao giờ tắt.
Mỗi tấm huy chương trong chiếc hộp cũ của ông ngoại chính là một biểu tượng thiêng liêng về lòng quả cảm. Dẫu mái tóc ông đã bạc màu theo năm tháng, bước đi không còn vững vàng như xưa, nhưng hình ảnh người lính thương binh kiên cường ấy mãi là tượng đài bất diệt, là niềm tự hào sâu sắc và là ngọn hải đăng soi đường cho tôi trên suốt hành trình trưởng thành.



