CÂU TRUYỆN VỀ ANH HÙNG PHÙNG VĂN KHẦU
Phùng Văn Khầu, dân tộc Nùng, sinh năm 1930 tại xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Phùng Văn Khầu, dân tộc Nùng, sinh năm 1930 tại xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Lúc ấy ông mới 10 tuổi. Năm 1949, ông nhập ngũ và được chọn vào binh chủng pháo binh.
Tháng 3 - 1954, ông tham gia đánh đồi E1 trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Đại đội của ông có 3 khẩu đội (mỗi khẩu đội 9 người) được cấp 3 khẩu sơn pháo 75 ly, mỗi khẩu nặng gần 500 kg, tầm bắn xa nhất là 6 km.
Chiều ngày 30 tháng 3 năm 1954, khẩu đội của ông được giao nhiệm vụ tiêu diệt 4 lô cốt địch tại đồi E1. Bằng 22 phát trúng mục tiêu bằng phương pháp ngắm bắn qua nòng pháo, khẩu đội của ông đánh sập cả bốn lô cốt, tiết kiệm được 8 viên đạn so với chỉ tiêu mà cấp trên giao. Ngày ngày 2 tháng 4 năm 1954, Đại đội của ông đưa 3 khẩu sơn pháo lên đồi E1, chiếm giữ điểm cao để yểm trợ các mũi tấn công của bộ binh.
Ngày 23 tháng 4 năm 1954, quân Pháp mở đợt phản công lớn nhằm chiếm lại đồi E1. Hỏa lực Pháp đánh sập hầm ngụy trang của 2 khẩu sơn pháo, 18 đồng đội của ông hy sinh và bị thương, chỉ còn 1 khẩu đội của ông là còn chiến đấu được. Sau một lúc, khẩu đội sơn pháo của ông cũng bị trúng hỏa lực địch, bị hy sinh hoặc bị thương gần hết, chỉ còn một mình một pháo, ông vẫn kiên cường bám vị trí, tự mình làm tất cả mọi công đoạn bắn (nạp đạn, chỉnh hướng, ngắm bắn), bắn trúng 4 khẩu pháo 105 ly và 2 khẩu đại liên Pháp, tạo điều kiện cho bộ binh xông lên chiếm lĩnh trận địa. Trong trận này ông đã lập công xuất sắc, góp phần tiêu diệt cứ điểm E1 của quân Pháp. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngay sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc.
Những tháng ngày “mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non”, Phùng Văn Khầu càng kiên cường, trung thành và tận tụy, không chỉ tự học bằng cách ngắm bắn trực tiếp qua nòng sơn pháo, mà còn kiên trì cùng với đồng đội kéo pháo vào, kéo pháo ra. Nếu không nhất mực trung thành, không thể nào cắn răng thực hiện “quân lệnh như sơn” từ người Anh Cả.
Người con dân tộc Nùng Phùng Văn Khầu trung thành đến độ, giữa lúc điểm cao đồi E mưa bom bão đạn, đồng đội đã hy sinh hết, bản thân bùn máu đặc đụa trên người, giọng đã gào khản đặc không có người tiếp viện đã phải tự mình nạp đạn, ngắm bắn và siết cò từng quả đạn diệt vô số pháo và lô cốt địch. Và người lính trung thành ấy đã gào khóc đồng đội ngay trên chiến địa đẫm máu xương trộn đất bùn. Để từ đó, sự trung thành như sắt thép càng được tôi rèn trong lửa đỏ.
Người lính Phùng Văn Khầu có cuộc đời khá kỳ lạ. Ông như được sinh ra để theo cách mạng, tay không tự xây dựng cuộc đời mình từ trong máu và nước mắt. Ông hiểu quá rõ, chỉ có sự trung thành tuyệt đối mới góp phần làm nên những chiến công của người chính nghĩa. Không phải lúc nào cấp trên hay đồng đội, ngay cả người bạn đời hiểu hết sự kiên cường, trung hậu của ông; nhưng dứt khoát phải tuyệt đối trung thành, không chỉ trong chấp hành nhiệm vụ mà phải bằng vào toàn bộ cuộc đời mình cho đến lúc nhắm mắt.
Con đường mình đã đi qua có nhiều đoạn thác ghềnh khi vượt qua rồi không dám nghĩ tại sao đã vượt qua hiểm nguy tài tình đến thế. Đó chính là nhờ ở nhân dân không tiếc máu xương, nhờ đồng đội lấp lỗ châu mai, lấy thân mình che lửa đạn. Nhân dân đã như thế, đồng đội đã như thế mình không trung thành với họ đặng làm sao ngẩng mặt làm người? Trung thành có thể hy sinh. Đã biết bao nhiêu người lính trung kiên vì Tổ quốc trên tuyến đầu trở thành liệt sĩ. Và thỏi thép Phùng Văn Khầu sau tầng tầng lửa đạn đã nhẹ nhàng chọn hai chữ trung thành theo suốt cuộc đời mình.
Có những lúc trở lại đời thường, những ngày tháng ấy, vẻ đẹp của sự trung thành sao lấp lánh và tin yêu đến thế. Người ta càng thấy thêm những khía cạnh giản dị của người lính Cụ Hồ.
Tôi may mắn được gần gũi ông hơn 10 năm, đã viết một tập sách hơn trăm trang về người anh hùng, mà không hiểu tại sao, tới tận khi nghe tin ông mất tôi mới choàng tỉnh nhận ra vẻ đẹp của Anh hùng Điện Biên Phùng Văn Khầu chính là sự trung thành tuyệt đối với chính mình, với Tổ quốc, với nhân dân.
Đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý, như: Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.
Ông là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng.



