Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CÂY CỌ CHIẾN TRƯỜNG VÀ TRI KỈ NƠI RỪNG GIÀ

Họa sĩ Dương Bích Liên - người nghệ sĩ tài ba của mỹ thuật Việt Nam.

Phú Thọ31/07/2026Đoàn xã Tánh Linh (Tánh Linh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
CÂY CỌ CHIẾN TRƯỜNG VÀ TRI KỈ NƠI RỪNG GIÀ

Trong ký ức của những người yêu nghệ thuật Việt Nam, người ta vẫn thường truyền tai nhau câu thành ngữ “Phố Phái, gái Liên” để ngợi ca những bức tranh vẽ thiếu nữ tuyệt đẹp của danh họa Dương Bích Liên. Ông là một nghệ sĩ tài ba nhưng sống thầm lặng, suốt đời dâng trọn tâm huyết và niềm say mê cho hội họa, để lại cho kho tàng mỹ thuật dân tộc một tài sản vô giá.

Cậu công tử Dương Bích Liên cất tiếng khóc chào đời tại Hà Nội trong một gia đình trí thức quan lại dòng dõi và quyền quý. Ông là con trai thứ hai của một vị quan tri phủ, gia đình có bốn anh chị em. Quê gốc của ông ở thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (xưa là làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, phủ Khoái Châu). Dòng họ Dương nơi đây vốn có truyền thống hiếu học lâu đời, thời nào cũng có văn nhân khoa bảng đỗ đạt cao. Người bác ruột của ông chính là cử nhân Dương Bá Trạc – vị chí sĩ yêu nước nổi tiếng trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Dù sinh ra trong nhung lụa, bước ngoặt số mệnh đã đến khi cậu thanh niên 17 tuổi nảy sinh niềm đam mê nghệ thuật mãnh liệt và khao khát từ bỏ cảnh sống giàu sang để dấn thân vào cuộc đời gió bụi. Năm 1941, Dương Bích Liên gặp họa sĩ Hoàng Lập Ngôn – người vừa thiết kế xong chiếc xe ngựa tự chế mang tên “Nhà Lăn Mê Ly” để đi vẽ người, vẽ cảnh khắp nơi. Dương Bích Liên lập tức nhập hội, cùng lăn bánh xuyên Việt. Thế nhưng, chuyến lãng du đầy mộng mơ ấy chỉ đi đến Thanh Hóa thì bị gia nhân của quan phủ truy tìm ra và áp giải cậu công tử về nhà. Sau chuyến đi định mệnh đó, ông quyết định ghi tên theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, chính thức mở đầu cho sự nghiệp hội họa lẫy lừng.

Dương Bích Liên thuộc thế hệ học trò cuối cùng của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học khoa Hội họa khóa XVIII (1944 - 1945). Khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ năm 1946, ông cùng nhiều trí thức, văn nghệ sĩ Hà Nội xếp bút nghiên lên chiến khu chống Pháp. Ông hoạt động tích cực trong Đoàn kịch của Phạm Văn Khoa, Đoàn văn công của Nguyễn Xuân Khoát, rồi tham gia Đoàn Văn hóa kháng chiến cùng các tên tuổi như Tô Ngọc Vân, Thế Lữ... và làm báo Vệ Quốc đoàn. Năm 1949, giữa không khí thiêng liêng của vùng chiến khu, ông trở thành một trong những họa sĩ đầu tiên được kết nạp Đảng cùng ngày với họa sĩ Mai Văn Hiến và nhà văn Trần Đăng.

Đến năm 1952, ông được giao trọng trách đặc biệt: lên chiến khu sống gần và vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc ra đời từ dạo ấy sau này đã đoạt giải Nhất Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và được Nhà nước công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2017.

Năm 1954, ông trở về tiếp quản Thủ đô và được biên chế vào "tổ sáng tác" cùng các tên tuổi Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng... Năm 1968, giữa những năm tháng chiến tranh phá hoại miền Bắc ác liệt, ông lại cùng các đồng nghiệp như Nguyễn Tiến Chung, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Huỳnh Văn Gấm đi thực tế sáng tác tại mỏ thần Quảng Ninh.

Thập niên 1970 đánh dấu giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Dương Bích Liên. Tuy nhiên, các tác phẩm ông gửi tham dự triển lãm thời gian này lại sớm bị loại, điển hình như bức Hào và bức Bác Hồ nói chuyện với Vệ Quốc Quân. Bức tranh vẽ Bác Hồ trong chiến khu Việt Bắc bị loại vì họa sĩ thể hiện người lính nhắm mắt khi nghe lãnh tụ nói chuyện. Dù Dương Bích Liên giải thích rằng khi con người ta đạt đến độ extreme (cực sướng) thì thường nhắm mắt, nhưng thời đó không ai chấp nhận cách diễn giải này. Tác phẩm sau đó cũng bặt tin tăm tích. Tự ái và đau buồn trước sự lạnh nhạt của nhân thế, ông dần không còn hứng thú sáng tác. Năm 1984, khi Nhà nước mời bộ tứ "Nghiêm, Liên, Sáng, Phái" làm triển lãm cá nhân, riêng ông đã từ chối. Sinh thời, ông chưa từng có một cuộc triển lãm riêng nào cho mình.

Những ngày cuối đời, Dương Bích Liên sống tại số 55A Bà Triệu (sau khi đổi căn nhà số 72 Thợ Nhuộm cho Phan Kế An). Ông chọn một cái chết lặng lẽ, không đau ốm bệnh tật mà tự tịch cốc, không ăn chỉ uống rượu. Những ngày cuối, chỉ có nhà sưu tập Nguyễn Hào Hải, hai vợ chồng người cháu ruột (con em trai ông) và người hàng xóm Phan Kế Bảo qua lại chăm sóc.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 12 tháng 12 năm 1988, ông trút hơi thở cuối cùng. Trước khi qua đời, ông từng bộc bạch một ước nguyện cất lên từ sâu thẳm tâm hồn: "Sau này, trong cái ngày tiễn đưa tôi về bên kia thế giới, tôi không muốn có ai là người lớn, tôi muốn đưa tiễn tôi là một đứa bé ăn mặc thật đúng điệu. Chỉ có đứa bé ấy, đi lững thững bên chiếc xe ngựa chở cái xác không hồn của tôi ra nghĩa trang."

Dù đám tang thực tế không thể diễn ra như mong muốn, nhưng vài tháng sau, những nhà làm phim – các bạn tri âm tri kỷ của ông – đã dựng lại toàn bộ đám tang ấy trên màn ảnh. Giữa khung cảnh trời chiều mùa thu, hình ảnh một bé trai mặc đồ Âu phục điệu đàng, lững thững bước sau chiếc xe ngựa chở cỗ quan tài và rắc từng cánh hoa xuống hai ven đường đã tiễn đưa người nghệ sĩ lớn về cõi vĩnh hằng.

Trong nhóm "Tứ kiệt" Nghiêm - Liên - Sáng - Phái, Dương Bích Liên là người ít được biết đến nhất bởi ông đã tự nguyện "chọn tiếng im lặng của hội họa làm bản thân". Ông sống cô đơn, thu mình, không vợ con và rất ít bạn bè ngoại trừ Bùi Xuân Phái và Nguyễn Sáng. Căn nhà nhỏ của ông trống không, quanh năm chỉ có một chiếc giường phủ ga trắng muốt, một chiếc võng và một bộ bàn ghế độc nhất.

Dương Bích Liên là một trong những họa sĩ cách mạng đầu tiên của hội họa Việt Nam. Ngay cả trong những ngày bom đạn ác liệt nhất, ông vẫn không rời giá vẽ. Sinh thời, ông không có ý cất giữ tranh và từng muốn đốt hết khi qua đời. Hàng trăm bức tranh còn lại đến nay – chủ yếu thuộc chủ đề phụ nữ, mang ánh sáng dung dị, thánh thiện trên các chất liệu sơn mài, sơn dầu, phấn màu, chì than – đều do bạn bè trân trọng lưu giữ giúp ông.

Năm 2000, Nhà nước đã truy tặng danh họa Dương Bích Liên Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (đợt II). Cuộc đời thầm lặng nhưng rực rỡ ấy chính là một nốt nhạc trầm hùng, bất tử trong câu chuyện của một thế hệ đã sống và cống hiến hết mình giữa thời hoa lửa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn