CCB Lê Thị Tuyết và vết thương sau bom đạn
Khi tôi bước vào con ngõ 137 đường Trường Chinh (TP. Huế), trước ngôi nhà số 1 là bà Lê Thị Tuyết (sinh năm 1949), một người phụ nữ phúc hậu, mái tóc ngả màu thời gian đã chờ sẵn. Nếu không biết trước, tôi sẽ không nghĩ người phụ nữ với khuôn mặt tươi sáng này lại là một cựu chiến binh, thương binh loại 3/4.
Cha là liệt sĩ, ông được tặng Huân chương Độc lập hạng 3; mẹ là thương binh 2/4 từng được tặng Kỷ niệm chương cho những năm tháng bị lao tù. Năm 15 tuổi, cô bé Lê Thị Tuyết tiếp nối truyền thống gia đình, tham gia vào kháng chiến chống Mỹ và nhanh chóng trưởng thành. Chức vụ đầu tiên là Đảng ủy viên, Phó Bí thư Xã đoàn, Phó ban An ninh xã Phú Hồ (huyện Phú Vang). Hoạt động cách mạng được 5 năm, vào tháng 1/1969, bà Tuyết bị địch bắn bị thương và bắt làm tù binh, bị giam giữ tại Trại giam nữ tù binh Phú Tài (Bình Định).
Nhớ lại về Trại giam nữ tù binh Phú Tài, người cựu chiến binh xưa khẽ rùng mình. Bà nhớ những trò tra tấn độc ác của quân địch đối với những cô gái trẻ để ép họ phản bội đồng chí, đồng bào, phản bội lại lý tưởng họ đã chọn. Nhưng như những bạn tù quật cường khác, cô gái trẻ Lê Thị Tuyết ngày đó đã trải qua những đòn tra tấn dã man của quân địch, người đầy thương tích nhưng không khai nửa lời.
20 tuổi, bà Tuyết nhớ lại lần sợ hãi nhất của mình là bị nhốt vào “chuồng cọp”. Đó là một lồng giam thấp, bao quanh là dây thép gai, ngồi và nằm đều không được, cựa quậy sẽ bị kẽm gai móc rách thịt da. “Mỗi ngày, chúng chỉ cho một nắm cơm với muối, không có nước uống, tôi và bạn tù phải thò tay ra hàng rào, nơi có mương nước chảy qua, dùng tay thấm nước lên môi. Bị nhốt như thế suốt 12 ngày mới được trả về phòng giam”. Chịu khổ sở, đau đớn là thế, vậy mà người chiến sĩ Lê Thị Tuyết và các bạn tù quyết tâm không phản bội Tổ quốc. Bà bị giam cho đến khi hiệp định Paris được ký kết và được trao trả.



