CCB - Ngô Sỹ Nguyên
CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ TUYẾN LỬA
Chiến tranh! Không chỉ là câu chuyện của hôm qua. Sau cuộc chiến, dù trên cương vị công tác nào hay trong cuộc sống đời thường, những Cựu chiến binh, cựu Thanh niên xung phong huyện Thanh Trì vẫn luôn thắp sáng ngọn lửa truyền thống, khí tiết của một người lính từng chiến đấu và trở về từ tuyến lửa.Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam (30/4/1975 - 30/4/2025), chúng tôi có dịp gặp CCB Ngô Sỹ Nguyên (xã Thanh Liệt) và Nguyễn Danh Hiến (xã Đại Áng) từng tham gia nhiều trận đánh lớn góp phần cùng dân tộc làm nên chiến thắng lịch sử. Trong ký ức của họ, những kỷ niệm vào sinh ra tử cùng đồng đội cũng như những trận đánh ác liệt tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/ 1975 vẫn mãi vẹn nguyên. Khi trở về đời thường, 'chất lính' vẫn bền bỉ chảy trong tâm thức, thôi thúc họ tiếp tục dấn thân trên những “trận tuyến” mới, gánh vác nhiều trọng trách, cống hiến cho sự phát triển của quê hương.
Ký ức một thời hoa lửaNói chuyện về thời chiến tranh, khí thế của những người lính Cụ Hồ vẫn hừng hực.Cựu chiến binh Ngô Sỹ Nguyên (SN 1952) hiện sinh sống tại xã Thanh Liệt, là người pháo thủ trẻ tuổi trong chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập của 50 năm trước. Vẫn còn vẹn nguyên những ký ức, ông bảo cuộc đời binh nghiệp của ông có nhiều kỷ niệm, tham gia nhiều trận đánh và giành nhiều thắng lợi nhưng sự kiện trọng đại nhất mà ông vinh dự được chứng kiến là vào đúng giây phút lịch sử trưa ngày 30/4/1975.Sinh ra ở mảnh đất Nghệ An anh hùng, năm 1971, chàng trai tuổi 19 Ngô Sỹ Nguyên viết đơn tình nguyện xin gia nhập quân ngũ. Vì thân hình bé nhỏ, cân nặng chỉ vỏn vẹn 40kg, ban đầu bị loại vì không đủ sức khỏe. Vậy nhưng khát vọng đóng góp một phần công sức vào công cuộc giải phóng đất nước, sau nhiều lần năn nỉ, anh cũng đã được thỏa ước vọng. Chịu khó học tập, rèn luyện nên chỉ sau 3 tháng huấn luyện bộ binh, Ngô Sỹ Nguyên được chọn vào lính Tăng thiết giáp. Tháng 12/1971, ông và người đồng đội Nguyễn Văn Tập chính thức gắn bó với chiếc xe tăng 390 thuộc Đại đội 4, Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2. Gian nan vất vả khó có thể sử dụng từ ngữ nào để diễn tả hết, nhưng trong suy nghĩ của những người lính trẻ mới 18 đôi mươi chỉ có một ý chí duy nhất là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.Sáng 10/4/1975 đơn vị ông bắt đầu hành quân từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trên đường đi, đoàn quân đã tham gia giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết. Ngày ấy, vượt qua bao làn đạn nguy hiểm, cận kề với cái chết, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, đập tan tuyến phòng thủ của địch. Trưa 30/4/1975, kíp xe tăng mang số hiệu 390, thuộc Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2, nhận lệnh tiến vào Dinh Độc Lập - cứ điểm cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Tiếng động cơ gầm lên, chiếc xe tăng 390 không do dự húc tung cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, ghi dấu bước chân đầu tiên của quân Giải phóng vào trung tâm đầu não chế độ cũ.Ông Ngô Sỹ Nguyên nhớ lại: “Khi đó xe đỗ trong và ngoài dinh Độc Lập rất nhiều. Nhân dân có những khẩu hiệu như Hội hiệp thương Sài Gòn - Gia Định hoan hô quân giải phóng; Hội nghệ sỹ hoan hô quân giải phóng… Hội nào thì cũng dương khẩu hiệu hoan hô hết. Chỉ sau nửa tiếng, chính quyền Dương Văn Minh đầu hàng thì nhân dân Sài Gòn phất cờ đỏ rực cả rừng cờ, nhân dân đi đến đâu là cờ đến đấy tràn ngập thành phố.Sau chiến thắng 30/4, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên cùng 3 đồng đội là Trung úy Vũ Đăng Toàn, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập và Thiếu úy Lê Văn Phượng tiếp tục tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam trên chiếc xe tăng 390. Chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, họ lại về Bắc phục vụ 4 năm bảo vệ biên giới. Và cứ như thế, hết Nam lại Bắc, hết cuộc chiến này tới cuộc chiến khác, ông Ngô Sỹ Nguyên đã có 10 năm gắn bó với xe tăng 390. Đến năm 2012, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 được nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia.Những ngày tháng 4 lịch sử, bên ly trà ấm, cựu chiến binh Nguyễn Danh Hiến (sinh năm 1953) hiện sống tại thôn Nguyệt Áng, xã Đại Áng say sưa kể về những năm tháng cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước.Sinh ra trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, ông nội, bố và anh trai của ông đều tham gia kháng chiến chống Pháp; bố ông từng bị địch bắn trọng thương trên chiến trường. Tháng 1/1972, chàng thanh niên Nguyễn Danh Hiến lên đường nhập ngũ, tiếp bước cha anh bảo vệ Tổ quốc và được biên chế về Tiểu đoàn 620, Sư đoàn 338. Đơn vị có nhiệm vụ huấn luyện quân tăng cường cho Quân khu 3, sẵn sàng nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Sau 5 tháng huấn luyện tân binh, đơn vị của ông hành quân vào chiến trường miền Nam. Ngày 16/7/1972, khi đến Quảng Trị, ông được biên chế về Trung đội thông tin của Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2).Giữa những ký ức của một thời chiến trận ùa về, ông Hiến bồi hồi nhớ lại: “Tôi nhớ nhất là trận đánh đêm 12, rạng sáng 13/9/1972 tại Cao điểm 138, dãy Trường Phước, Quảng Trị. Hôm đó, tôi được tăng cường làm nhiệm vụ thông tin cho Đại đội 9. Khi đơn vị tiếp cận mục tiêu, tôi nằm gần đại đội trưởng sau ụ mối, duy trì liên lạc. Bất ngờ, địch bắn cối M19, một quả rơi trúng vị trí của đại đội trưởng khiến anh hy sinh tại chỗ. Đau xót, bàng hoàng, bản thân tôi thì bị mảnh đạn găm vào tay nhưng vẫn cố gắng báo cáo tình hình về tiểu đoàn. Sau trận đánh, tôi được chuyển về tuyến sau điều trị. Cuối năm 1972, vết thương lành, tôi trở lại đơn vị, tiếp tục huấn luyện, sẵn sàng cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975”. Nhờ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên chiến trường, ngày 16/1/1975, chiến sĩ Nguyễn Danh Hiến vinh dự được kết nạp Đảng.Đầu tháng 3/1975, sau khi hành quân về đóng quân tại xã Cam Chính (huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị), chiến sĩ thông tin Nguyễn Danh Hiến của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 cùng đơn vị tiến quân thần tốc theo trục đường 14B, 15B, áp sát Thừa Thiên Huế, sẵn sàng chờ lệnh giải phóng thành phố.Ngày 25/3, sau khi Huế được giải phóng, đơn vị ông tiến công Đà Nẵng. Rạng sáng 29/3, Đà Nẵng rung chuyển bởi tiếng pháo. Ông Hiến cùng đơn vị đánh chiếm bán đảo Sơn Trà, làm chủ hệ thống radar trọng yếu.
Ký ức một thời hoa lửaNói chuyện về thời chiến tranh, khí thế của những người lính Cụ Hồ vẫn hừng hực.Cựu chiến binh Ngô Sỹ Nguyên (SN 1952) hiện sinh sống tại xã Thanh Liệt, là người pháo thủ trẻ tuổi trong chiếc xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập của 50 năm trước. Vẫn còn vẹn nguyên những ký ức, ông bảo cuộc đời binh nghiệp của ông có nhiều kỷ niệm, tham gia nhiều trận đánh và giành nhiều thắng lợi nhưng sự kiện trọng đại nhất mà ông vinh dự được chứng kiến là vào đúng giây phút lịch sử trưa ngày 30/4/1975.Sinh ra ở mảnh đất Nghệ An anh hùng, năm 1971, chàng trai tuổi 19 Ngô Sỹ Nguyên viết đơn tình nguyện xin gia nhập quân ngũ. Vì thân hình bé nhỏ, cân nặng chỉ vỏn vẹn 40kg, ban đầu bị loại vì không đủ sức khỏe. Vậy nhưng khát vọng đóng góp một phần công sức vào công cuộc giải phóng đất nước, sau nhiều lần năn nỉ, anh cũng đã được thỏa ước vọng. Chịu khó học tập, rèn luyện nên chỉ sau 3 tháng huấn luyện bộ binh, Ngô Sỹ Nguyên được chọn vào lính Tăng thiết giáp. Tháng 12/1971, ông và người đồng đội Nguyễn Văn Tập chính thức gắn bó với chiếc xe tăng 390 thuộc Đại đội 4, Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2. Gian nan vất vả khó có thể sử dụng từ ngữ nào để diễn tả hết, nhưng trong suy nghĩ của những người lính trẻ mới 18 đôi mươi chỉ có một ý chí duy nhất là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.Sáng 10/4/1975 đơn vị ông bắt đầu hành quân từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trên đường đi, đoàn quân đã tham gia giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Rang, Phan Thiết. Ngày ấy, vượt qua bao làn đạn nguy hiểm, cận kề với cái chết, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, đập tan tuyến phòng thủ của địch. Trưa 30/4/1975, kíp xe tăng mang số hiệu 390, thuộc Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2, nhận lệnh tiến vào Dinh Độc Lập - cứ điểm cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Tiếng động cơ gầm lên, chiếc xe tăng 390 không do dự húc tung cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, ghi dấu bước chân đầu tiên của quân Giải phóng vào trung tâm đầu não chế độ cũ.Ông Ngô Sỹ Nguyên nhớ lại: “Khi đó xe đỗ trong và ngoài dinh Độc Lập rất nhiều. Nhân dân có những khẩu hiệu như Hội hiệp thương Sài Gòn - Gia Định hoan hô quân giải phóng; Hội nghệ sỹ hoan hô quân giải phóng… Hội nào thì cũng dương khẩu hiệu hoan hô hết. Chỉ sau nửa tiếng, chính quyền Dương Văn Minh đầu hàng thì nhân dân Sài Gòn phất cờ đỏ rực cả rừng cờ, nhân dân đi đến đâu là cờ đến đấy tràn ngập thành phố.Sau chiến thắng 30/4, Trung sĩ Ngô Sỹ Nguyên cùng 3 đồng đội là Trung úy Vũ Đăng Toàn, Trung sĩ Nguyễn Văn Tập và Thiếu úy Lê Văn Phượng tiếp tục tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam trên chiếc xe tăng 390. Chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc, họ lại về Bắc phục vụ 4 năm bảo vệ biên giới. Và cứ như thế, hết Nam lại Bắc, hết cuộc chiến này tới cuộc chiến khác, ông Ngô Sỹ Nguyên đã có 10 năm gắn bó với xe tăng 390. Đến năm 2012, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 được nhà nước công nhận là Bảo vật Quốc gia.Những ngày tháng 4 lịch sử, bên ly trà ấm, cựu chiến binh Nguyễn Danh Hiến (sinh năm 1953) hiện sống tại thôn Nguyệt Áng, xã Đại Áng say sưa kể về những năm tháng cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước.Sinh ra trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, ông nội, bố và anh trai của ông đều tham gia kháng chiến chống Pháp; bố ông từng bị địch bắn trọng thương trên chiến trường. Tháng 1/1972, chàng thanh niên Nguyễn Danh Hiến lên đường nhập ngũ, tiếp bước cha anh bảo vệ Tổ quốc và được biên chế về Tiểu đoàn 620, Sư đoàn 338. Đơn vị có nhiệm vụ huấn luyện quân tăng cường cho Quân khu 3, sẵn sàng nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Sau 5 tháng huấn luyện tân binh, đơn vị của ông hành quân vào chiến trường miền Nam. Ngày 16/7/1972, khi đến Quảng Trị, ông được biên chế về Trung đội thông tin của Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2).Giữa những ký ức của một thời chiến trận ùa về, ông Hiến bồi hồi nhớ lại: “Tôi nhớ nhất là trận đánh đêm 12, rạng sáng 13/9/1972 tại Cao điểm 138, dãy Trường Phước, Quảng Trị. Hôm đó, tôi được tăng cường làm nhiệm vụ thông tin cho Đại đội 9. Khi đơn vị tiếp cận mục tiêu, tôi nằm gần đại đội trưởng sau ụ mối, duy trì liên lạc. Bất ngờ, địch bắn cối M19, một quả rơi trúng vị trí của đại đội trưởng khiến anh hy sinh tại chỗ. Đau xót, bàng hoàng, bản thân tôi thì bị mảnh đạn găm vào tay nhưng vẫn cố gắng báo cáo tình hình về tiểu đoàn. Sau trận đánh, tôi được chuyển về tuyến sau điều trị. Cuối năm 1972, vết thương lành, tôi trở lại đơn vị, tiếp tục huấn luyện, sẵn sàng cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975”. Nhờ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên chiến trường, ngày 16/1/1975, chiến sĩ Nguyễn Danh Hiến vinh dự được kết nạp Đảng.Đầu tháng 3/1975, sau khi hành quân về đóng quân tại xã Cam Chính (huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị), chiến sĩ thông tin Nguyễn Danh Hiến của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 cùng đơn vị tiến quân thần tốc theo trục đường 14B, 15B, áp sát Thừa Thiên Huế, sẵn sàng chờ lệnh giải phóng thành phố.Ngày 25/3, sau khi Huế được giải phóng, đơn vị ông tiến công Đà Nẵng. Rạng sáng 29/3, Đà Nẵng rung chuyển bởi tiếng pháo. Ông Hiến cùng đơn vị đánh chiếm bán đảo Sơn Trà, làm chủ hệ thống radar trọng yếu.


