Ch.ết vì Tổ quốc, đời khen ngợi Ch.ết cho hậu thế, đẹp tương lai."
Trích từ bài thơ do nhà chí sĩ Nguyễn An Ninh sáng tác tại ngục tù Côn Đảo trước lúc hy sinh. Sinh năm 1900 tại Gia Định trong một gia đình nhà Nho giàu truyền thống, ông sớm bộc lộ tài năng thiên bẩm: 15 tuổi làm biên tập báo, 16 tuổi đậu thủ khoa trung học rồi ra Hà Nội học Y Dược. Năm 1918, ông sang Pháp học Luật tại Đại học Sorbonne và xuất sắc lấy bằng Cử nhân Luật chỉ sau hai năm.
"Ch.ết vì Tổ quốc, đời khen ngợi
Ch.ết cho hậu thế, đẹp tương lai."
— Trích từ bài thơ do nhà chí sĩ Nguyễn An Ninh sáng tác tại ngục tù Côn Đảo trước lúc hy sinh. Sinh năm 1900 tại Gia Định trong một gia đình nhà Nho giàu truyền thống, ông sớm bộc lộ tài năng thiên bẩm: 15 tuổi làm biên tập báo, 16 tuổi đậu thủ khoa trung học rồi ra Hà Nội học Y Dược. Năm 1918, ông sang Pháp học Luật tại Đại học Sorbonne và xuất sắc lấy bằng Cử nhân Luật chỉ sau hai năm.
Thời gian ở Pháp, ông tham gia nhóm "Ngũ Long" (gồm 5 người: Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc), Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh). Đến cuối năm 1922, Nguyễn An Ninh về nước; giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô; nhóm tại Pháp lúc này chỉ còn lại 3 người (Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền) tiếp tục duy trì hoạt động.
Từ bỏ cơ hội làm quan hay luật sư giàu có, ông về nước với sứ mệnh thức tỉnh dân tộc, trở thành thủ lĩnh tinh thần của thanh niên Nam Kỳ qua những bài diễn thuyết chấn động như "Chung đúc học thức cho dân An Nam", "Cao vọng của thanh niên An Nam", cùng tờ báo đ.ấu tr.anh La Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè) do chính ông làm chủ bút và tự tay ôm đi rao bán.
Không dừng lại ở ngôn từ, ông khơi nguồn phong trào hội kín Thanh niên Cao vọng và chủ xướng cao trào Đông Dương Đại hội (1936), quy tụ đông đảo quần chúng hưởng ứng cách mạng.
Đồng hành và làm nên điểm tựa vững chắc cho ông là người vợ thứ hai — bà Trương Thị Sáu ("Cô Sáu Cầu Ông Lãnh"). Bà chấp nhận bán cửa tiệm may nổi tiếng, từ bỏ cuộc sống nhung lụa để về quê làm nông, trút bỏ trang sức để trở thành người dâu thảo. Số tiền bán tài sản cùng những giọt mồ hôi từ việc trồng trọt, chăn nuôi, làm đại lý thuốc, lập gánh hát của bà không chỉ nuôi 5 người con ăn học mà còn nuôi giấu cán bộ, tài tài trợ tài chính cho các hoạt động đ.ấu tr.anh của chồng.
Sức ảnh hưởng to lớn ấy khiến thực dân Pháp 5 lần bắt giam Nguyễn An Ninh, và lần cuối cùng vào tháng 10/1939, ông bị đày ra Côn Đảo. Tại "địa ngục trần gian", dù sức khỏe kiệt quệ, ông vẫn giữ vững khí tiết, kiên quyết từ chối hợp tác với phát xít Nhật và trút hơi thở cuối cùng vào ngày 14/8/1943 khi mới 43 tuổi.
Tưởng nhớ cống hiến vĩ đại ấy, ngày 1/8/1980, Nhà nước đã truy nhận ông danh hiệu Liệt sĩ; khởi công xây dựng Khu tưởng niệm rộng 3.000m² tại Quận 12 (TP.HCM) từ ngày 18/11/2000 và khánh thành vào ngày 15/9/2002, đồng thời trân trọng đặt tên ông cho hàng loạt tuyến đường, trường học trọng điểm trên khắp cả nước như Hà Nội, TP.HCM, Vũng Tàu, Cần Thơ, Long An.
Kính cẩn nghiêng mình trước chí sĩ Nguyễn An Ninh — một ngôi sao sáng trên đài hoa dân tộc. Cuộc đời ông là bài học vô giá cho thế hệ trẻ hôm nay về lý tưởng sống dấn thân, bản lĩnh dùng tri thức để phụng sự Tổ quốc và tinh thần tự lực, tự cường, không bao giờ cúi đầu trước khó khăn.



