CHÂN DUNG BỘ ĐỘI CỤ HỒ
Ngày còn đi học phổ thông, tôi đã được nghe người lớn kể về đội du kích Khau Phạ và người đội trưởng Lý Nủ Chu gan góc chỉ huy đánh Pháp, nghe về đội du kích Đại Lịch chống càn và thiếu niên Hoàng Văn Thọ xông ra cướp súng Tây bị giặc bắn, anh dũng hy sinh. Như có điều gì làm tôi không dứt ra được mỗi khi nghĩ đến các nhân vật anh hùng ấy nhất là những năm tháng sống ở chiến trường Tây Nguyên. Thời gian dần đi. Khoảng tháng 6/1984 nhân ngồi trò chuyện, ông Hoàng Chúng, Phó ban dân vận tỉnh Hoàng
10 năm sau (1995), tại Nhà sáng tác Đại Lải (Vĩnh Phúc) tôi viết liền trong hai mươi ngày xong bản thảo truyện dài Gió rừng thông. Trở về Yên Bái, tôi đem bản thảo cho đồng chí Hoàng Văn Lồng, Bí thư Huyện uỷ và đồng chí Giàng A Chu, Chủ tịch huyện Mù Căng Chải đọc giúp, xin các anh cho ý kiến nhất là về nhân vật, sự kiện lịch sử, phong tục tập quán của người Mông. Anh Giàng A Chu đã góp những ý rất xác thực. Sau đó NXB Văn hoá dân tộc nhận in và thống nhất với tác giả đổi tên truyện Gió rừng thông thành Gió Mù Căng.
Vì là tác phẩm văn học nên ở Gió Mù Căng chỉ hai nhân vật Lý Nủ Chư (Lý Nủ Chu) và Giàng Sống Tu (Giàng Sáy Tu) là con người có thật ngoài đời cả về cá tính và hành động. Những gì nói về hai ông trong truyện chỉ mới dừng lại ở buổi đầu đánh Pháp và cũng mới nói được rất ít. Các nhân vật chính diện khác như Giàng Khua Kỷ, Vừ Mỷ Say, Giàng Seo Pả, Vừ A sềnh, rồi nhân vật phản diện Vàng Sống Chua, Cai Quánh, quan hai Soóc-Xăng, là hư cấu trên cơ sở những tư liệu có được. Riêng nhân vật Vàng Seo May, nhiều em học sinh không đồng ý với tác giả để cô gái Seo May hy sinh, có em còn “muốn khóc cả lên” khi đọc đoạn cuối truyện như trong thư em viết. Tôi muốn nhân vật của mình phảng phất một Lý Thị Mùi nào đó mà ông Hoàng Chúng đã kể, tiếc là đến nay tôi chưa có điều kiện tìm hiểu để làm rõ về người con gái Mông nhỏ tuổi mà can đảm này.
Tháng 8/1997 khi về gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để xin ý kiến của ông về chiến dịch Tây Bắc, giải phóng Nghĩa Lộ (năm 1952), tôi có tặng Đại tướng cuốn truyện Gió Mù Căng. Thật không ngờ, Đại tướng nhận sách rồi khẽ đưa tay vỗ gió và nói: Lúc bấy giờ, ở Tây Bắc, đội du kích người Mông của Lý Nủ Chu hoạt động rất nổi tiếng. Lời nhận xét đó của Vị Tổng Tư lệnh quân đội suốt hai cuộc chiến tranh giữ nước, tôi nghĩ là lời khen vô giá đối vói nhân dân các dân tộc xã Cao Phạ, với đội du kích Lý Nủ Chu, và lực lượng vũ trang Yên Bái những năm kháng chiến chống Pháp.
Mù Căng Chải là huyện vùng cao ở phía Tây của tỉnh Yên Bái, số dân chỉ khoảng 43.000 người và có tới 98% là đồng bào Mông. Người Mông ở đây nay vẫn sống trên rẻo cao, một phần định cư gần trục đường quốc lộ để làm ruộng bậc thang còn hầu hết là trồng rừng, rừng thông và rải rác lúa nương ven đồi.
Giữa lòng huyện Mù Cang Chải có con đường quốc lộ 37 chạy nối liền Nghĩa Lộ - Văn Chấn với huyện Than Uyên rổi thị xã Tam Đường của tỉnh Lai Châu. Con đường này có đèo Khau Phạ (tiếng Thái nghĩa là Sừng trời) dài 18 km nằm trên địa phận xã Cao Phạ đường có nhiều đoạn cua gấp, người Mông gọi là quai, chính nơi đây trở thành nỗi kinh hoàng của giặc Pháp trước tiếng tăm của đội du kích Khau Phạ những năm 1947 - 1954.
Địa danh Mù Căng Chải. Người già Mông giải thích rằng: Mù được đọc chệch từ mồ, mồ theo tiếng quan hoả mà người Mông hay dùng, có nghĩa là gỗ, căng nghĩa là khô, chải ý chỉ một bản (bản địa). Mồ Căng Chải (Mù Căng Chải) nghĩa là Đất gỗ khô. Nơi đây từ tháng ba đến tháng sáu gió lào thổi ào ào, khô khốc, khi lạnh, khi nóng, rất khó chịu. Mỗi lần gió đổ về rừng thông Púng Luông bạt ngàn trên đỉnh đèo Khau Phạ tự tạo ra một âm thanh nghe như những tiếng hú dài, khô khan, rờn rợn, các chiến sỹ du kích Khau Phạ lợi dụng địa hình tự nhiên này suốt ngày đêm sống cùng rừng, cùng đèo, để đánh Pháp, để chặn đứng các cuộc hành quân của Pháp từ Nghĩa Lộ đi Lai Châu, Lao Cai và ngược lại...
Để hiểu thêm về đội du kích Khau Phạ tôi tìm đến nhà riêng ông Hà Thiết Hùng nguyên uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Hoàng Liên Sơn. Những năm 1950 - 1951 ông là trung đội trưởng trung đội 78 bên cạnh “Đại đội Kim Sơn” nổị tiếng. Ông Hà Thiết Hùng kể: Lúc đó (từ 1948 đến 1950) ông Kim Sơn là Đại đội trưởng bộ đội chủ lực, được trên tăng cường về Tú Lệ, Đại đội của Kim Sơn luôn luôn chiến, đấu bên cạnh đội du kích Khau Phạ. Chỉ khác đội du kích hoạt động trên đỉnh đèo còn đại đội Kim Sơn đánh địch dưới chân đèo nhưng vẫn thường xuyên liên hệ, phối hợp chặt chẽ. (Năm 2001 ông Kim Sơn cùng ông Hà Thiết Hùng thăm lại chiến trường đèo Khau Phạ xưa). Đội du kích lúc đầu chỉ có 7 người do cán bộ Việt Minh về tổ chức thành lập, đội do Giàng Khua Kỷ phụ trách. Giàng Khua Kỷ là Thống lý cả vùng Tú Lệ - Khau Phạ đã ngả theo Việt Minh không chấp nhận việc Pháp lập đổn Cao Phạ ông vận động những người săn thú góp súng cho Việt Minh và giấu ở trên rừng, Pháp theo dõi rồi bắt ông đem về giam ở Tú Lệ sau đó thủ tiêu. Giàng Khua Kỷ hy sinh, Lý Nủ Chu được cử thay thế làm Đội trưởng, Giàng Sống Tu em ruột của Giàng Khua Kỷ làm Đội phó. Hai ông đều là những thanh niên Cao Phạ, khoẻ mạnh, rất tâm đầu ý hợp trong việc kiên quyết đánh Pháp. Có lần đại đội trưởng Kim Sơn trực tiếp lên núi bàn với Lý Nủ Chu và Giàng Sống Tu tìm cách phân hoá lực lượng lính bảo an là người Thái người Mông ở đồn Tú Lê và phối hợp với du kích Chế Tạo, du kích Nậm Khắt để đánh địch khi chúng từ Sơn La và từ Than Uyên sang. Năm 1950 trên điều “Đại đội Kim Sơn” vào Tam Đường (Lai Châu) và điều Đại đội 86 mà trực tiếp là Trung đội 78 do Hà Thiết Hùng chỉ huy, về thay. Lúc này lực lượng của Pháp ở Yên Bái, Nghĩa Lộ, Than Uyên đã rất mạnh nên việc phối hợp với đội du kích Khau Phạ có khó khăn, Pháp tăng cường một tiểu đoàn Âu phi và Bảo an về vùng Tú Lê, ngày đêm càn quét lùng bắt. Trung đội 78 và đội du kích dần dần đi vào hoạt động độc lập.
Sau 10 năm Gió Mù Căng được xuất bản mà những câu chuyên về dấu tích lịch sử, về Đội du kích Khau Phạ vẫn cứ như huyền thoại, thậm chí thiếu nhi học sinh Mù Căng Chải hôm nay còn nửa tin nửa ngờ chiến công của cha ông mình. Một chiều đầu hè từ Yên Bái tôi ngược quốc lộ 37 qua Nghĩa Lộ lên Mù Căng Chải thăm ông Sùng A Chơ (tức Sùng Nhà Chơ) tại xã Mổ zề. Ông Sùng A Chơ là Đại tá, nguyên Phó chính uỷ Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hoàng Liên Sơn, ở tuổi 72 trông ông tráng kiên như ngày còn tại vị chỉ huy sư đoàn. Ông Chơ cho biết: Năm đó (1951) ông đang là đội viên du kích xã Chế Tạo thì bị giặc Pháp bắt đưa về giam ở đồn Tú Lệ, giam sáu tháng không làm gì được, chúng phải thả, ông Chơ theo bộ đôi chủ lực từ đây. Đội du kích Khau Phạ lúc này đã nổi tiếngnhất là sự gan góc và thông minh của Đội trưởng Lý Nủ Chu và của Giàng Sống Tu, bọn Pháp chỉ nghe tên cũng đã sợ hãi. Trong đội có một phụ nữ là Thào Thị Sua người Mông ở Nậm Có. Sua lấy anh bộ đội ở “Đại đội Kim Sơn” nên trở thành liên lạc viên giữa “Đại đội Kim Sơn” với Đội du kích, hai ba lần bọn giặc chạm chán với cô gái du kích Mông này mà cô vẫn thoát an toàn. Đoạn đường từ hang Hàm Rồng qua bản Lìm Mông đến quai sể Sáng là đoạn đánh nhau nhiều nhất. Pháp tìm cách đánh úp nhưng du kích Khau Phạ ở trong rừng thông lúc ẩn lúc hiện, phục kích đánh chặn mỗi khi chúng hành quân qua đèo, mấy năm trời, hàng chục tên Pháp và lính bảo an bị súng kíp bắn tỉa, bị đá lăn, khiến chúng phải bãi bỏ kế hoạch lập đồn Cao Phạ. Đại tá Sùng A Chơ dừng lại để hồi tưởng: Trận mà đội diệt nhiều Pháp nhất là trận ngày 18 tháng 10 năm 1952. Hôm đó đồn Pháp ở Nghĩa Lộ bị ta tiêu diệt lúc 6 giờ sáng thì buổi trưa Pháp cho máy bay đổ quân dù xuống Tú Lệ hòng sống chết giữ được nơi này. Nhưng địa hình làm cho máy bay thả dù không chính xác, nhiều tên lính Âu Phi bị gió thổi “bay” xuống Khau Phạ, thế là du kích Khau Phạ cùng với bộ đội chủ lực do Hoàng Diệm (Sau là Đại tá, Chủ tịch đầu tiên của Hội Cựu chiến binh tỉnh Yên Bái) chỉ huy, đánh một trận tơi bời diệt hàng mấy chục tên. Sau trận thất bại nặng nề ấy Pháp bỏ cả Đồn Tú Lệ rút về Lai Châu.
- Thưa ông khi Pháp phải rút chạy rồi thì Đội du kích hoạt động như thế nào?
Đại tá Sùng A Chơ :
-Pháp bỏ Tú Lệ, Cao Phạ nhưng co cụm về Nà Sản Lai Châu, chúng xúi giục tàn quân người địa phương ở Than Uyên, Mù Căng Chải, Văn Chấn, Trạm Tấu và bên Sơn La nổi dậy làm phỉ.Bọn phỉ hoành hành khắp nơi. Bộ đội ta và các đội du kích Khau Phạ, Chế Tạo, Nậm Khắt lại đi tiễu phỉ bảo vệ dân, cuộc tiễu phỉ này dai dẳng đến năm 1958 - 1959 mới tạm kết thúc.
- Thế còn các đội viên du kích Khau Phạ ?
- Họ lại trở về bản mình, lại lao động sản xuất, bảo vệ làng bản, khi giặc phỉ đến là đánh. Ông Lý Nủ Chu sau này làm đến chức Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu tự trị Thái Mèo, Năm 1963 giải thể khu, chia thành ba tỉnh Sơn La, Nghĩa Lộ, Lai Châu, ông Lý Nủ Chu không biết chữ nên xin nghỉ hưu. Ông mất năm 2000 sau ngày xã Cao Phạ đón nhận Danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Pháp. Riêng ông được tặng Huân chương chiến công. Ông Giàng Sống Tu lên huyện làm Phó chủ tịch huyện Mù Cang Chải rồi nghỉ hưu. Bà Thào Thị Sua lấy anh bộ đội của Đại đội Kim Sơn ở lại Nậm Có. Con cháu của họ hôm nay đều là cán bộ huyện cán bộ xã.
Tôi trở lại xã Cao Phạ tìm gặp Lý A Lử, Chủ tịch UBND xã, anh Lử là cháu nội đích tôn của cụ Lý Nủ Chu. Rất tiếc trời mưa lớn hôm qua làm sạt lở đèo Khau Phạ, anh phải có mặt ở công trường từ sáng sớm. Anh Khang A Chua người Mông Khau Phạ, cán bộ Trường trung học Văn hoá Nghệ thuật tỉnh Yên Bái cùng đi với tôi nói, ngày xã Cao Phạ đón nhận danh hiệu Anh hùng ai cũng nhắc đến Giàng Khua Kỷ người có công gây dựng Đội du kích, sớm hy sinh không được chứng kiến ngày hội lớn, may mắn còn ông Lý Nủ Chu người chỉ huy gan dạ nổi tiếng đã thay các ông Giàng Khua Kỷ, Giàng Sống Tu nhận hoa chúc mừng của mọi người.
Đèo Khau Phạ xưa, nay đã được mở rộng, nâng cấp thành quốc lộ nối liền thị xã Tam Đường tỉnh Lai Châu với Nghĩa Lộ và Hà Nội. Nhưng những địa danh, những dấu tích một thời như Khau Phạ, Púng Luông, Quai xể Sáng, Hang Hàm Rồng, Bản Lìm Mông sẽ mãi mãi sống cùng Lịch sử đánh Pháp của nhân dân các dân tộc Mù Căng Chải anh hùng.


