Cựu chiến binh

CHÂN DUNG MỘT NGƯỜI LÍNH

"Chân dung một người lính" là câu chuyện được ông Bế Ích Quân, cựu chiến binh, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 346 (Quân khu I), trực tiếp kể lại qua những ký ức về chặng đường chiến đấu và cống hiến của mình trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở những lời kể chân thực ấy, ông Hoàng Mạnh Hùng đã ghi chép, biên soạn và thuật lại thành bài viết, góp phần tái hiện hình ảnh một người lính Cụ Hồ kiên trung, quả cảm, giàu ý chí và đức hy sinh, để lại những giá trị lịch sử và giáo dục sâu

Cao Bằng02/07/2026Hoàng Mạnh Hùng (xã Nguyên Bình)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hội ngộ ông trong một hoàn cảnh của người cao tuổi, đó là cùng tới điều trị tại khoa nội Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Cao Bằng. Có lẽ đã gần 30 năm mới gặp lại nhau từ khi ông về quân khu giữ chức Phó Hiệu trưởng trường Quân chính Quân khu Một.

Hai người một già, một trẻ hơn nằm cùng phòng, lại là hai người lính chiến gặp nhau như dịp may trời ban, ông phấn chấn khi tôi sẵn sàng hầu chuyện bởi chặng đường binh nghiệp của một sư đoàn trưởng suốt một đời trận mạc. Tôi đã được biết ít nhiều về ông. Vẫn giọng hào sảng, chân thành, mộc mạc ở tuổi 80 với 14 năm lăn lộn trên chiến trường Nam Bộ - Campuchia, ông đã kể cho tôi những ký ức không thể phai mờ của một người lính qua không biết bao nhiêu trận đánh mà trên cơ thể ông mang 14 vết thương.

Ông là Bế Ích Quân, dân tộc Tày sinh năm 1944 tại làng Đồng Pán, xã Độc Lập, huyện Quảng Uyên (nay là huyện Quảng Hòa) trong một gia đình nông dân. Tháng 2 năm 1964, ông lên đường nhập ngũ. Ông được biên chế về Sư đoàn 312 để huấn luyện tân binh, chuẩn bị bổ sung cho chiến trường miền Nam. Sau 6 tháng huấn luyện, đơn vị ông điều động một Tiểu đoàn vào mặt trận Quảng Ngãi bổ sung cho Trung đoàn Ba Gia, Trung đoàn chủ lực của Bắc Trung Bộ, sau này là 1 Trung đoàn trong đội hình Sư đoàn quân khu V. Cuộc hành quân trong hoàn cảnh lúc bấy giờ đầy khó khăn nên khi vào đến nơi, ông bị ốm tưởng không qua khỏi. Đơn vị buộc phải đưa ông ra Bắc chữa bệnh bằng con đường giao liên, khiêng cáng đi bộ ròng rã 3 tháng trời mới ra đến đơn vị lúc này đóng quân tại Phổ Yên, Bắc Thái. Ở hậu phương, ông được điều trị khỏi sau 6 tháng trời, sức khỏe ổn định, đơn vị không muốn ông trở lại mặt trận nhưng ông cương quyết xin đi.

Tháng 1 năm 1966, Trung đoàn 141 của ông cắt khỏi F312 để tăng cường cho miền Đông Nam Bộ và ông nằm trong đội hình đơn vị, lần thứ hai vượt Trường Sơn ra chiến trường. Cuộc hành quân lần này vào sâu hơn trong hoàn cảnh quân Mỹ bắt đầu tham chiến, hệ thống kho trạm hậu cần của đường Hồ Chí Minh chưa hoàn chỉnh, đơn vị hành quân bộ ròng rã 6 tháng trời trong gian khó, thiếu thốn mới đến được biên giới Phước Long giáp với Cam-pu-chia. Trên đường hành quân, ông đã vinh dự được kết nạp vào Đảng, được bổ nhiệm làm tiểu đội trưởng. Đơn vị dừng chân ở Phước Long, củng cố đội hình trong điều kiện thiếu lương thực, thuốc men lại liên tục bị địch càn quét, sốt rét, bệnh tật làm bộ đội kiệt sức và gần 360 cán bộchiến sĩ đã hy sinh. Củng cố xong đơn vị, ông hành quân đến Bù Đăng (Phước Long), lúc này ông là Tiểu đội trưởng, chỉ huy bộ đội tham gia trận đánh đầu tiên tiêu diệt một đại đội biệt kích ở Cai Phọc trên đường 10 (Sóc Boong Bo). Từ đây, ông cùng Trung đoàn ta xung hữu đột trên chiến trường miền Đông Nam bộ và đồng đội, nhân dân gọi ông là Ba Quân.

Đầu năm 1967 trung đoàn cơ động về Xa Mát – Tây Ninh, là đơn vị phối thuộc bảo vệ cơ quan đầu não của Bộ Tư lệnh quân giải phóng và chuẩn bị chống trận Càn Gian Xơn Xi Ty của quân Mỹ. Trong ký ức của ông, từng trận đánh với mức độ ác liệt khác nhau, từng trường hợp hy sinh của đồng đội ông nhớ, kể tên rành rọt như mới hôm qua.

Ông kể trận đánh lớn là tháng 7 năm 1967, đơn vị tổ chức đánh công kiên cấp trung đoàn, tiến công đồn Tân Hưng (Hớn Quản), trận đánh giành thắng lợi tiêu diệt gọn một Tiểu đoàn quân Mỹ ngụy hỗn hợp làm chủ căn cứ nhưng ta hy sinh nhiều cán bộ chiến sĩ vì địch đánh bom thẳng vào đồn còn 117 liệt sĩ không lấy được xác còn nằm trong đồn. Hôm sau địch đổ quân chiếm lại đồn. Chúng dồn thành một hố chôn tập thể. Đến năm 1975, sau chiến thắng 30 tháng 4, 117 liệt sĩ được quy tập về nghĩa trang Hớn Quản cùng nằm trong ngôi mộ tập thể. Năm 1968 ông là Trung đội trưởng cùng trung đoàn đánh bại cuộc càn hơn đá máu vàng của Sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới Mỹ tại khu Mỏ Vẹt Cà Tum. Chiến dịch Mậu Thân 1968 ông là Đại đội phó cùng Trung đoàn cơ động về vùng Tân Uyên, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn quân Mỹ vào ngày mồng 5 Tết âm lịch; trận Bản Đồng Trần tiêu diệt Trung đoàn quân Úc.

Từ năm 1968 đến năm 1969, ông cùng Trung đoàn trong đội hình Sư đoàn 7 quân giải phóng cơ động khắp chiến trường miền Đông từ Lộc Ninh - Tây Ninh, tổ chức nhiều trận đánh tiêu diệt, tiêu hao sinh lực các Sư đoàn Mỹ như Sư đoàn Anh cả đỏ, Tia chớp nhiệt đới, Sư đoàn Kỵ binh bay làm thất bại học thuyết tìm - diệt của Mỹ ngụy. Điển hình như ngày 23 tháng 8 năm 1968, trung đoàn tổ chức phục kích ở ngã ba thị xã Lộc Ninh, tiêu diệt 01 Tiểu đoàn của Trung đoàn thiết giáp Mỹ.

Năm 1970, với cương vị Tiểu đoàn phó, khi Lon Non tiến hành đảo chính ở Cam-pu-chia, đơn vị ông cùng các lực lượng đánh bại quân Lon Non ở vùng biên giới Tây Ninh, phản kích, thọc sâu đánh địch ở Kông Pông Chàm, bảo vệ Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền ở khu vực căn cứ Xa Mát - Lò Gò. Giữa năm 1970 ông được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng trong hoàn cảnh bị quân Mỹ - Ngụy mở trận càn, ép quân giải phóng sang đất Cam-pu-chia, bên đất bạn quân Lon Non phối hợp đánh phá, đơn vị bị địchchia cắt, hết đạn, hết lương thực vẫn bám trụ, vừa chiến đấu vừa củng cố lực lượng.

Năm 1971, 10 vạn quân ngụy Sài Gòn tổ chức trận càn quy mô lớn tấn công sang đất Cam-pu-chia, Trung đoàn 141 của ông đã ngoan cường chiến đấu, tiêu diệt 1 chiến đoàn Ngụy, góp phần đánh bại cuộc hành quân của địch.

Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, trong chiến dịch Nguyễn Huệ, đơn vị do ông chỉ huy cùng Sư đoàn 7 làm nhiệm vụ cắt đường 13 ở Bắc Chơn Thành, chặn đường tiếp viện trong 125 ngày đêm ác liệt để tạo điều kiện cho Sư đoàn 9 tiến công và làm chủ An Lộc. Cuối năm 1972, ông được cử đi học và trở về làm Trung đoàn phó Trung đoàn 41, tiếp tục chỉ huy chiến đấu chống lấn chiếm và cơ động đánh địch từ Củ Chi - Bến Cát, tam giác sắt. Tháng 7 năm 1974 Quân đoàn 4 được thành lập.

Tháng 12 năm 1974, Trung đoàn 141 được giao nhiệm vụ là đơn vị chủ công trong đội hình quân đoàn tiến đánh tiêu diệt Chi khu Đồng Xoài và thị xã Phước Long. Sau nhiều ngày cơ động, đơn vị đã vào vị trí tập kết, chuẩn bị xuất phát xung phong. Được sự yểm trợ của xe tăng và pháo binh, sau thời gian đột kích, mặc dù quân Ngụy chống đỡ kiên cường nhưng trung đoàn của ông đã thọc sâu đè bẹp sự kháng cự của địch. Đúng 10 giờ 30 phút sáng ngày 6 tháng 01 năm 1975, Trung đoàn 141 đã cắm cờ giải phóng trên dinh tỉnh trưởng Phước Long. Trận Phước Long đã mở ra một cục diện mới trên chiến trường Miền Nam lúc bấy giờ, góp phần cho cuộc tổng tiến công xuân 1975 toàn thắng.

Trong chiến dịch xuân 1975, ông là quyền trung đoàn trưởng, trung đoàn ông lại vượt sông Đồng Nai, tiến đánh Định Quán và làm chủ căn cứ của quân Ngụy trên quốc lộ 20, sau đó tiến lên Lâm Đồng, giải phóng thị xã Bảo Lộc, tiến đến Đức Trọng. Hoàn thành nhiệm vụ, trung đoàn quay trở lại tham gia đột phá Xuân Lộc, cánh cửa thép phía Đông Bắc Sài Gòn. Ngày 20 tháng 4, Trung đoàn đã bao vây đánh tan Lữ đoàn dù 1 ngụy đang có ý định đánh tạt sườn Sư đoàn 7, đồng thời đánh địch rút chạy trên quốc lộ 2 (Xuân Lộc - Vũng Tàu), bắn cháy 6 xe tăng, thu 60 xe cơ giới của Ngụy.

Khi cứ điểm Xuân Lộc bị san phẳng, cửa mở Đông Bắc Sài Gòn mở toang, chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn 141 của ông được vinh dự là mũi xung kích cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Trên đường 1 địch tập trung phòng thủ dày đặc, đơn vị bạn mở cửa ở Hố Nai gặp khó khăn nên không cơ động nhanh được, các trận đánh diễn ra rất ác liệt nên đơn vị thọc sâu của ông bị chậm lại. Đúng 12 giờ ngày 30-4-1975, mũi tiến công của Trung đoàn 141 Sưđoàn 7 Quân đoàn 4 do ông chỉ huy đã hội quân trước Dinh Độc Lập trong niềm vui toàn thắng. Sau giải phóng ông được cử đi bổ túc lớp cán bộ Trung đoàn 6 tháng rồi quay lại đơn vị tiếp tục công tác.

Đất nước hòa bình nhưng duyên nợ với chiến trận cứ bám riết lấy ông. Tháng 7 năm 1977, quân Pôn-pốt gây hấn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, Trung đoàn của ông lại cơ động về Châu Đốc - An Giang ngăn chặn sự tấn công, thảm sát của địch. Tháng 12 năm 1977, Trung đoàn được giao nhiệm vụ đánh thọc sâu, đẩy lùi quân Pôn-pốt về bên kia biên giới, tiêu diệt và làm tan rã 2 Trung đoàn Khơ-me đỏ, phối hợp cùng Quân đoàn 3 đẩy lùi và đánh thiệt hại Sư đoàn số 1 quân Pôn-pốt, bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam.

Tháng 10 năm 1978, ông được cử ra Bắc học văn hóa bởi lúc nhập ngũ ông mới tốt nghiệp lớp 7 phổ thông, sau đó vào Học viện Quốc phòng học cấp chỉ huy chiến dịch – chiến lược.

Tháng 7 năm 1981, tốt nghiệp ra trường ông được bổ nhiệm chức vụ Sư đoàn phó Sư đoàn 346 – Quân khu I, đứng chân tại huyện biên giới Hà Quảng - Cao Bằng trong đội hình Quân đoàn 26 bảo vệ các huyện tuyến 1 gồm Thông Nông, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Hòa An. Thời điểm này ông mới được phong quân hàm Thượng tá quân đội, đến tháng 4 năm 1984 được phong quân hàm Đại tá nhận chức vụ Sư đoàn trưởng 346 Quân đoàn 26 đến tháng 10/1987. Như một giai thoại, ông bảo suốt 14 năm vào sống ra chết, bị thương 12 lần với bao trận đánh ác liệt mà mình vẫn còn sống. Có lúc ông lặng xuống khi kể về các trường hợp đồng đội ngã xuống trong từng trận đánh với nỗi niềm tiếc thương sâu sắc. Ông sinh ra là gắn bó với trận mạc, gian khổ, hy sinh ác liệt đã hình thành trong ông một nhân cách, một bản lĩnh. Ông bảo làm đến chỉ huy tiểu đoàn mà chưa biết sử dụng bản đồ nên Trung đoàn phải cử 1 Trung đội trưởng trinh sát theo ông như hình với bóng, hay vào trận luôn mang tiểu liên AK, không mang súng ngắn. Với bề dày chiến công, ông được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng; 3 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ; 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng; 10 bằng khen của quân giải phóng, 2 bằng khen Dũng sĩ diệt Mỹ, 2 danh hiệu thi đua cấp sư đoàn. Trở về với đời thường sau bao gian khó, hy sinh và thăng trầm của số phận, trong ông vẫn sáng ngời phẩm chất của người lính Cụ Hồ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn